Wednesday, August 12, 2009

Dịch sai

Dịch sai!

Vietnamnet có bài giới thiệu “10 đại học 'đỉnh' nhất nước Mỹ năm 2009” nhưng dịch sai khá nhiều mà lại ở ngay những chỗ quan trọng. May mà bài viết có ghi nguồn Tạp chí Forbes nên chỉ cần đối chiếu với bản gốc là biết sai những chỗ nào.

Ví dụ, câu “Tỉ lệ sinh viên/khoa là 7/1” (West Point) dịch từ “Student to Faculty Ratio: 7 to 1”, tức là tỷ lệ sinh viên trên mỗi giảng viên; ở West Point cứ 7 sinh viên thì có một giảng viên. Ai lại dùng từ “khoa” ở trường hợp này. Vì dùng sai như thế nên bài dịch mới có câu: “Trung bình 1 khoa có 3 sinh viên” (Học viện Công nghệ California). Lẽ ra người dịch phải nghĩ làm gì có trường nào một khoa chỉ có 3 sinh viên để kiểm tra lại nghĩa từ Faculty và chỉnh lại chứ.

Câu “Một lớp học thường bao gồm 1263 sinh viên” cũng thuộc dạng này, lẽ ra dịch xong đọc thấy phi lý thì nên kiểm tra lại. Nguyên văn là “Freshman class size” là lượng sinh viên năm nhất tuyển vào hằng năm.

Hoặc câu “hàng năm có 4981 sinh viên tốt nghiệp” (Princeton) là sai nặng vì nguyên văn ghi “total undergrads”. Sinh viên đại học gọi là undergraduates hay gọn lại là undergrads – 4.981 là con số toàn bộ sinh viên đại học ở Princeton, chứ không phải lượng sinh viên tốt nghiệp. Đến trường Wellesley, câu này được đổi thành “hàng năm cấp bằng cho 2344 sinh viên” cũng sai như thế.

Dịch sai là chuyện thường gặp nhưng điều muốn nói ở đây là khi dịch xong thấy câu vô nghĩa hay phi lý thì nên cẩn thận tra cứu lại. Vietnamnet nên cho sửa mấy chỗ đó, không thì kỳ cục lắm.

Cập nhật: Vietnamnet đã cho sửa gần hết các lỗi này.

Saturday, August 1, 2009

Mở ra... để khép lại

Mở ra… để khép lại

Nếu đọc lướt qua Quyết định 97/2009/QĐ-TTg ngày 24/7/2009, người ta có thể nghĩ cánh cửa đã mở ra cho những cá nhân muốn thành lập tổ chức nghiên cứu khoa học, kể cả cung cấp dịch vụ khoa học. Danh mục ban hành kèm theo Quyết định liệt kê đầy đủ hầu như mọi ngành nghề khoa học tự nhiên và xã hội, kể cả nghiên cứu kinh tế, kinh doanh, giáo dục, xã hội học, lịch sử, triết học…

Thế nhưng cánh cửa này đã đóng sập ở ngay điều 2 khi quy định: “… Nếu có ý kiến phản biện về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước cần gởi ý kiến đó cho cơ quan Đảng, Nhà nước có thẩm quyền, không được công bố công khai với danh nghĩa hoặc gắn với danh nghĩa của tổ chức khoa học và công nghệ”.

Hiện nay trên thực tế đã có nhiều tổ chức nghiên cứu khoa học của cá nhân thành lập, thường dưới tên gọi viện nghiên cứu khoa học – công nghệ, phần lớn do các nhà khoa học thành lập để cung cấp dịch vụ nghiên cứu, tư vấn, đào tạo… Có thể đa phần công việc của các tổ chức nghiên cứu khoa học này là thực hiện hợp đồng ký trực tiếp với khách hàng, không liên quan gì đến đường lối, chủ trương, chính sách của Nhà nước. Nhưng sự đời không bao giờ đơn giản như vậy. Ví dụ một viện thực hiện một nghiên cứu cho một doanh nghiệp cách thức tiết kiệm năng lượng; trong kết quả báo cáo dày cộp ắt sẽ có những đoạn nêu thực trạng chính sách của Nhà nước về năng lượng và những phân tích đúng sai của chính sách này. Thế là không được công bố công khai.

Giám đốc một viện nghiên cứu tư nhân khác, giả dụ được báo chí phỏng vấn về một chính sách mới ban hành thuộc thẩm quyền chuyên môn của ông, sẽ vi phạm luật pháp nếu trả lời mang tính phản biện dưới danh nghĩa giám đốc viện. Một tổ chức nghiên cứu nông nghiệp cũng không thể nào công khai những kết quả nghiên cứu của họ về chính sách nông nghiệp của Nhà nước nếu không muốn bị đóng cửa vì dù có khen mười điều thì ắt cũng có vài điều “phản biện”. Hàng loạt hoạt động mang tính xã hội của các viện nghiên cứu (tức là những nghiên cứu không do doanh nghiệp đặt hàng mà là để đóng góp vào “sự nghiệp phát triển đất nước” như cách nói thường thấy) sẽ bị thui chột vì không ai muốn dây vào chuyện luật pháp đã cấm. Thiệt không hiểu nổi tư duy của người soạn quyết định này trong khi chủ trương thường được nhắc tới lâu nay là khuyến khích sự phản biện của người dân, đặc biệt là của các nhà khoa học.

Nên nhớ bộ máy công quyền lớn lắm, không ai quản cho hết. Cơ chế kiểm soát hữu hiệu nhất là thông qua công luận để giám sát, để soát xét, để lên tiếng mỗi khi một bộ phận trong bộ máy làm sai. Lẽ ra người đứng đầu Nhà nước phải mừng khi có tiếng nói phản biện được công khai về đường lối, chủ trương, chính sách của mình, nhờ thế mà biết được ý nguyện của người dân, biết bộ máy ở dưới có làm đúng hay không. Nay với một quyết định như thế, có thể giải quyết được một vấn đề gai góc nào đó trước mắt, nhưng lại có hại lâu dài cho cơ chế kiểm soát nói trên. Lẽ nào người ta không hiểu được, gởi cho cơ quan có thẩm quyền đồng nghĩa với dìm lấp mọi ý kiến, không ý kiến nào đến được tai người muốn nghe thực tế xã hội.

Thursday, July 30, 2009

Không nên cười cợt bài làm của học sinh

Không nên cười cợt bài làm của học sinh

Sau mỗi kỳ thi, thường thấy có những bài trích các câu văn ngây ngô của thí sinh để dè bỉu, cười cợt, hay để cảm thán trình độ của học sinh ngày nay tệ hại như thế, như thế.

Theo tôi, đây là việc không hay ho gì cả và không nên làm. Nếu bài làm của thí sinh dở tệ, đấy chính là sản phẩm của nền giáo dục mà các thầy cô cũng phải phần nào chịu trách nhiệm. Ai lại đi cười cợt chính sản phẩm của mình, dù đó là thứ phẩm.

Nếu bài viết được thực hiện nghiêm túc, phân tích các lỗi sai để rút ra những kết luận gì đó, phục vụ cho việc cải thiện chuyện dạy chuyện học, trích dẫn bài làm của học sinh còn khả dĩ chấp nhận được. Chứ như các bài dạng này hiện nay chỉ là những tiểu phẩm nhàm, viết vội theo kiểu chắp nhặt.

Điều tệ hại nhất là những câu trích đôi lúc lại cho thấy học sinh viết chân thật, có ý tưởng riêng, suy nghĩ độc lập, dù cách diễn đạt có thể lủng củng hay ngây ngô. Đem những câu này ra phê phán chính các thầy cô được giao nhiệm vụ giáo dục làm sai chức năng của mình, tầm nhìn còn thiển cận hơn cả em học sinh bị phê phán. Ví dụ, câu trích mở đầu một bài viết trên tờ VnExpress: “Em cũng không hiểu tại sao trong cái đói quay quắt như vậy, người ta vẫn lấy chồng lấy vợ làm gì. Phải chăng bà cụ Tứ muốn có cháu bế cho đỡ buồn, đỡ khổ vì đói?” (một thí sinh tại Vinh (Nghệ An) cảm nhận về tác phẩm Vợ nhặt). Hay một câu khác trong bài này: “Nhận xét về bút pháp lãng mạn của Thạch Lam, một thí sinh đã viết: "Nếu như Vũ Trọng Phụng là bậc thầy trong phóng sự, Xuân Diệu là bậc thầy trong thơ ca, Thạch Lam lại là người xuất sắc nhất Việt Nam về nghệ thuật miêu tả, từ một phố huyện bình thường như những làng quê khác nhưng Thạch Lam đã tưởng tượng ra một phố huyện chỉ có trong ... truyện ngắn của ông”. Tại sao lại đem những câu này ra để minh họa cho chuyện “cán bộ chấm thi cười ra nước mắt”.

Đi kèm với bài này là ảnh của một thí sinh đang làm bài thi. Tại sao những người làm báo cứ cho mình cái quyền sử dụng ảnh của bất kỳ ai vào bất kỳ nội dung gì, miễn sao có ghi thêm dòng chữ “ảnh minh họa”, là nghĩ mình được miễn trừ trách nhiệm với thí sinh bị minh họa. Người viết, người làm tòa soạn cứ nghĩ nếu ảnh đó là của em mình, con mình, liệu họ có chịu đăng kèm với bài viết phê phán sự ngô nghê trong bài làm của thí sinh?

Một chuyện nữa là công khai điểm thi của từng thí sinh trên báo, trên mạng. Điểm thi phải được xem là bí mật cá nhân, tại sao lại đăng công khai một cách thoải mái như vậy? Ở nước khác, mỗi lần thầy cô phát bài, họ đều tế nhị lật sấp bài làm, trao tận tay cho học sinh để ngay trong lớp không ai biết điểm của ai. Cái hay của cách làm này là học sinh không học vì điểm, học sinh kém không bị mặc cảm, học sinh giỏi cũng không ngại mình bị chê là “mọt sách”… Học thực chất, dạy thực chất nên bắt đầu từ những việc như thế.

Không phải là chuyện nhỏ

Không phải là chuyện nhỏ!

Một nền thương mại điện tử cần những cơ sở hạ tầng cơ bản như hệ thống thanh toán điện tử, kết nối Internet, hệ thống vận chuyển hàng hóa… Thế nhưng quan trọng hơn thế là một môi trường mua bán trong tin cậy, tin tưởng lẫn nhau giữa những người tham gia. Đáng tiếc là nền thương mại điện tử Việt Nam chưa phát triển bao nhiêu đã bị ảnh hưởng xấu bởi một số cá nhân sử dụng nhiều phương thức khác nhau để lừa đảo, gian lận khắp nơi trên thế giới thương mại ảo.

Nếu thử tìm kiếm thông tin về lừa đảo trong thương mại điện tử (bằng tiếng Anh), chúng ta sẽ thấy nhiều công ty cung cấp dịch vụ bảo mật và nhiều hãng lớn xếp Việt Nam cùng nhóm các nước có nhiều trường hợp lừa đảo nhất thế giới như Nigeria, Ghana… Phổ biến là dùng thẻ tín dụng đánh cắp để mua hàng, trả tiền dịch vụ và thậm chí người sử dụng thẻ trái phép còn rao chia sẻ cho người khác một cách công khai. Đối với trong nước, đã xảy ra nhiều trường hợp lừa đảo khi mua bán qua mạng dưới đủ hình thức. Ở đây, câu nói “con sâu làm rầu nồi canh” phản ánh chính xác tình hình khi hậu quả việc làm của một số cá nhân đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến cộng đồng những người tham gia thương mại điện tử bình thường: hàng loạt website từ chối giao dịch với máy tính có địa chỉ IP từ Việt Nam; nhiều trang mua bán điện tử không chấp nhận đơn đặt hàng từ Việt Nam và nhiều hãng lớn khóa nhiều dịch vụ tiện ích đối với người sử dụng từ Việt Nam.

Ở một khía cạnh khác, báo cáo của hãng Anchor Intelligence vào tuần trước cho biết Việt Nam đứng đầu thế giới về gian lận trong quảng cáo trực tuyến là một mối lo ngại khác. Hình thức quảng cáo trực tuyến phổ biến hiện nay là người chủ website chèn quảng cáo lên trang của mình, quảng cáo này do một công ty dịch vụ quản lý, dựa vào nội dung do nơi quảng cáo cung cấp. Mỗi khi có ai nhấp chuột vào quảng cáo này, nơi quảng cáo trả tiền cho công ty dịch vụ và nơi này chia cho chủ website theo một tỷ lệ thỏa thuận. Gian lận xảy ra khi có người (có thể là chủ website hay công ty dịch vụ) cố tình nhấp chuột liên tục bằng nhân công hay bằng phần mềm để tăng số lượng người xem quảng cáo, bắt nơi quảng cáo trả nhiều tiền. Lý do gần một nửa số lần nhấp chuột như thế từ Việt Nam được xem là gian lận có thể do tập quán sử dụng chung máy tính ở các tiệm café Internet nhưng một tỷ lệ cao như thế chắc chắn sẽ ngán trở con đường phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam nói chung và ngành quảng cáo trực tuyến nói riêng.

Xây dựng lại uy tín cho cộng đồng thương mại điện tử Việt Nam là một chuyện khó, cần sự phối hợp của nhiều bên, kể cả ngành giáo dục và quản lý nhà nước. Trong tình hình này, rất cần sự ra đời của các công ty trung gian có uy tín, làm nơi xác nhận giao dịch thật cho người dùng trong nước với các hãng thương mại điện tử bên ngoài làm bước khởi đầu cho quá trình xây dựng ấy. Nếu không chẳng mấy chốc Việt Nam sẽ bị “ngăn sông, cấm chợ” trên Internet với thế giới và thương mại điện tử nội địa cũng khó lòng phát triển.

Thursday, July 16, 2009

Nhiều hiểu nhầm tai hại

Chuyện thỏa thuận tác quyền với Google

Nhiều hiểu nhầm tai hại

Thông tin về việc Google sẽ bồi thường hàng trăm triệu đô-la tiền tác quyền cho các tác giả Việt Nam được nhiều báo đăng tải trong tuần trước gây ra nhiều hiểu nhầm tai hại. Thật ra có thể vào trang web chính thức, có cả tiếng Việt, để tìm hiểu. Đây không phải là trang web của Google mà là của Ban Điều hành vụ hòa giải – Google chỉ là nơi cung cấp kỹ thuật nên có thể tin tưởng vào sự khách quan của thông tin.

Hiểu nhầm đầu tiên là không phân biệt được dịch vụ tìm kiếm thông tin bình thường của Google và dịch vụ tìm sách. Giả dụ gõ vào ô tìm kiếm của Google cụm từ “Nguyễn Huy Thiệp”, sẽ hiện lên rất nhiều trang web cho phép đọc hay tải về các tiểu thuyết của ông ở các định dạng như pdf. Chuyện này hoàn toàn không liên quan gì đến Google và vụ kiện bản quyền sách họ đang phải đối mặt bởi với dịch vụ này Google chỉ tìm kiếm để trả về thông tin chúng ta tìm. Không hiểu sao lại có tuyên bố “tất cả các xuất bản phẩm Việt Nam sẽ không tồn tại trên bất kỳ cơ sở dữ liệu tìm kiếm nào của Google… nếu Việt Nam không đạt được thỏa thuận bản quyền với Google sau ngày 4-9-2009”.

Có lẽ phải nhắc lại ngắn gọn đầu đuôi câu chuyện (chi tiết xin xem trên trang web nói trên). Năm 2004, Google giới thiệu dịch vụ Book Search và đến cuối năm 2008 đã quét để số hóa khoảng 7 triệu cuốn sách nhờ vào thỏa thuận hợp tác với một số thư viện lớn của Mỹ. Một khi đã số hóa nội dung, Google có thể giúp người dùng tìm kiếm thông tin về cuốn sách họ đang cần (tại trang books.google.com), cho xem trước vài ba trang rồi hướng dẫn họ mượn hay mua từ các nguồn khác. Google chỉ cho phép đọc toàn bộ các cuốn sách đã hết thời hạn bảo vệ bản quyền. Mặc dù vậy, Hiệp hội tác giả Mỹ vẫn kiện Google vào năm 2005 vì cho rằng Google vi phạm bản quyền; Google phản bác, cho rằng chuyện giới thiệu một số chi tiết cuốn sách hay vài ba trang xem trước trên mạng không vi phạm bản quyền. Sau nhiều năm tranh cãi, đến tháng 10-2008 hai bên đạt được thỏa thuận, trong đó Google đồng ý trả 125 triệu đô-la cho những tác giả các cuốn sách họ đã quét. Thỏa thuận này còn phải được tòa án phê chuẩn mới có hiệu lực, dự kiến vào ngày 7-10-2009.

Thế vì sao có sách của Việt Nam dính vào đây. Trong số trên 7 triệu cuốn sách đã được số hóa có sách của Việt Nam, viết bằng tiếng Việt, do các nhà xuất bản trong nước ấn hành. Đó là do các thư viện hợp tác với Google nói trên có các cuốn sách này trong thư viện. Muốn biết sách của mình có nằm trong số đó không, các tác giả có thể vào trang web nói ở đầu bài, sau một vài thao tác đăng ký đơn giản, sẽ được dẫn đến trang tìm cơ sở dữ liệu để gõ vào tựa sách hay tên tác giả hay nhà xuất bản và sẽ biết ngay kết quả. Ví dụ, gõ vào từ “Trẻ” ở ô nhà xuất bản, kết quả tìm kiếm cho thấy có trên 500 cuốn sách của nhà xuất bản này đã được Google số hóa.

Nếu thấy có sách mình bị Google số hóa, tác giả hay bên nắm bản quyền có thể điền vào mẫu yêu cầu bồi thường trên trang web trước ngày 5-1-2010 để được trả ít nhất là 60 đô-la mỗi cuốn. Sau đó Google sẽ thương mại hóa cuốn sách bằng nhiều cách như bán ở dạng sách điện tử hay quảng cáo kèm nội dung và tác giả sẽ được chia 63% doanh thu. Ở đây, đâu cần có một tổ chức như Trung tâm Quyền tác giả Việt Nam đứng ra làm trung gian và nhận 20% hoa hồng!

Thế còn những thông tin có vẻ cấp bách như phải quyết định tham gia vụ kiện hay không trước ngày 4-9-2009 là gì? Trong một vụ kiện tập thể, những người có liên quan dù không trực tiếp kiện thường vẫn được xem là thành viên của bên đi kiện và nếu có thỏa thuận hòa giải, mọi người đều phải được hỏi ý kiến. Nếu các tác giả Việt Nam không làm gì cả, điều đó có nghĩa họ vẫn đồng ý tham gia vào việc hòa giải. Cột mốc 4-9-2009 chỉ dành cho những ai phản đối, không muốn tham gia vào cách hòa giải như thế để sau này tự họ có thể kiện Google chơi. Làm gì có chuyện đấy là hạn chót để các tác giả đăng ký tham gia như nhiều phát biểu trong tuần qua!

Nói tóm lại các tác giả Việt Nam hầu như không cần phải làm gì cả, ngoài việc vào xem có sách của mình trong cơ sở dữ liệu của Google hay không để điền mẫu đòi bồi thường hay thậm chí yêu cầu xóa sách mình ra khỏi cơ sở dữ liệu của Google.

Những thông tin như “Google chào giá 400 triệu đô-la/năm bản quyền tác phẩm Việt Nam” là hoàn toàn vô căn cứ hay tuyên bố “Google đã gửi Thông báo pháp lý đến Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả văn học Việt Nam - tổ chức đại diện quản lý tập thể quyền tác giả, để thương thảo” là không chính xác, gây hiểu nhầm không đáng có. Buồn cười nhất là khẳng định các trang web trong nước có nguy cơ bị Google kiện ngược lại nếu trả thấp hơn mức 60 đô-la mỗi lần số hóa một tác phẩm. Như đã nói ở trên, vụ dàn xếp thỏa thuận này không mang tính độc quyền cho Google đối với các tác phẩm số hóa, khẳng định các chủ trang web khác không được đăng tải các tác phẩm đã “bán” cho Google là một chuyện hiểu nhầm nữa.

Cập nhật: Bài này post lên chậm vì còn đợi bản in trên TBKTSG phát hành sáng nay. Trước đó, tôi có gởi thư cho Ban Điều hành hòa giải, họ cho biết Google không hề liên lạc với cơ quan, tổ chức hay cá nhân nào ở Việt Nam cả. Cũng như các vụ kiện tập thể khác, liên lạc với những người có quyền lợi liên quan là bên Nguyên đơn (tức là những tác giả và nhà xuất bản đi kiện) chứ không phải Bị đơn (tức là Google, nơi bị kiện). Chính luật sư của Nguyên đơn đã liên lạc với các tổ chức ở Việt Nam bao gồm: Trung tâm Quyền tác giả Việt Nam, Hội Nhà văn Việt Nam, Liên hiệp các hội khoa học & kỹ thuật Việt Nam, Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, Hội Nghệ sĩ nhiếp ảnh Việt Nam và Hội Phụ nữ Việt Nam. Họ cho biết họ đã có cuộc nói chuyện qua điện thoại rất dài với Trung tâm Quyền tác giả Việt Nam, giải thích mọi thắc mắc về chuyện hòa giải, không biết vì sao Trung tâm này vẫn cứ đưa ra nhiều thông tin sai lạc!

Wednesday, July 15, 2009

Vấn đề không nằm ở GDP

Vấn đề không nằm ở GDP

Một trong những nội dung tranh luận giữa đại biểu Hội đồng Nhân dân TPHCM và chính quyền thành phố tại cuộc họp kết thúc vào giữa tuần trước là mức độ tăng trưởng GDP của TPHCM: giữ nguyên 10% như kế hoạch cũ hay điều chỉnh giảm xuống.

Khái niệm GDP địa phương là khái niệm dễ gây hiểu nhầm vì việc tính toán chồng lấn, thừa thiếu, rất khó tách bạch. Ví dụ xuất khẩu dầu thô hiện được tính vào kim ngạch xuất khẩu của TPHCM. Hay nhập khẩu thông qua các cảng ở TPHCM nhưng hàng hóa được tiêu thụ khắp cả nước.

Cho nên nếu GDP trên bình diện cả nước liệu có phải là một tiêu chí đánh giá về kinh tế chính xác hay không vẫn còn đang được tranh luận thì con số tăng trưởng GDP của TPHCM càng không có ý nghĩa gì nhiều.

Quan trọng hơn, chính quyền thành phố rất ít có khả năng tác động vào tăng trưởng GDP của thành phố. Khác với ngày xưa khi mỗi quận huyện đều có những doanh nghiệp trực thuộc và thành phố có trong tay hàng loạt doanh nghiệp nhà nước có thể huy động vào việc thực hiện các mục tiêu ngắn hạn hay dài hạn, ngày nay loại hình doanh nghiệp quận huyện đã không còn tồn tại, các doanh nghiệp quốc doanh lớn phần đông là doanh nghiệp trung ương thì lấy gì để thành phố tác động lên tăng trưởng GDP?

Trong các thành phần cấu thành GDP, tiêu dùng của người dân cũng không nằm trong vòng ảnh hưởng của các chính sách mà thành phố có thể ban hành. Các đợt bán hàng khuyến mãi chỉ chiếm một tỷ trọng rất nhỏ trong tổng tiêu dùng. Chi tiêu của chính quyền cũng có giới hạn, không thể có chuyện sử dụng ngân sách thành phố để “kích cầu” như chính quyền trung ương. Đầu tư của doanh nghiệp hay tăng giảm kim ngạch xuất nhập khẩu cũng nằm ngoài vòng cương tỏa của thành phố. Vậy đặt ra chỉ tiêu tăng trưởng GDP cho riêng thành phố liệu có ý nghĩa gì chăng?

Thật ra, nêu một con số cụ thể GDP tăng 10% chẳng hạn cũng có ý nghĩa nếu cách tiếp cận vấn đề được nhìn nhận một cách khác hẳn.

Lấy ví dụ chuyện “lô cốt” do đào đường làm các dự án hạ tầng gây ắch tắc giao thông như thế nào, ai cũng đều đã trải nghiệm. Tìm biện pháp hạn chế “lô cốt”, làm cho giao thông thông thoáng chính là thành phố đã góp phần nâng cao mức tăng trưởng GDP một cách rất thiết thực. Hàng hóa có luân chuyển trôi chảy từ thành phố về các tỉnh hay ngược lại thì GDP thành phố mới tăng; cảng có thông quan nhanh, kim ngạch xuất nhập khẩu mới được cải thiện...

Hay ở góc độ doanh nghiệp, nếu thành phố tập trung cải tiến công tác hành chính liên quan đến cấp phép thành lập, triển khai dự án đầu tư, tháo gỡ những khó khăn trong hoạt động thì đó chính là những nỗ lực làm tăng trưởng GDP hữu hiệu hơn cả.

Hiện nay tư duy về công tác quản lý đô thị đã khác trước nhưng quán tính làm theo cách cũ muốn bao quát mọi chuyện, lo hết mọi chuyện vẫn còn khá phổ biến. Thiết nghĩ chính quyền thành phố nên xác định nhiệm vụ chính yếu của mình là quản lý đô thị sao cho cuộc sống của người dân, trong đó có cả doanh nghiệp, ngày càng tốt lên chứ không phải lo chuyện GDP năm nay phải đạt bao nhiêu phần trăm tăng trưởng. Đó là hệ quả chứ không phải là cứu cánh. Cuộc sống tốt lên đó bao gồm chuyện đường sá, an ninh trật tự, chuyện rác thải, ngập nước, chuyện hành chính, giáo dục... Đến lượt mình, người dân và doanh nghiệp sẽ đóng đúng vai trò của mình trong một môi trường tốt hơn và GDP dù không ai đặt chỉ tiêu cho nó, cũng sẽ tăng trưởng bền vững hơn nhiều lần.

Monday, July 13, 2009

Thong tin sai ve Google va tac quyen

Thông tin sai về vụ Google và tác quyền

Cả tuần qua, báo chí đưa thông tin, trích lời từ Trung tâm Quyền tác giả Việt Nam với nhiều chi tiết sai lạc. Mọi người nên vào trang web chính thức của vụ kiện để tham khảo, nó có cả tiếng Việt và có phần tóm tắt, phần đầy đủ, phần các câu hỏi thường gặp cũng như hướng dẫn cặn kẽ việc kiểm tra xem tác phẩm của mình có bị số hóa hay không, phải làm gì để nhận bồi thường….

Giữa tuần tôi sẽ post bài về vụ này bởi thấy người ta nói sai một cách đáng buồn, kiểu như:

- Việc các tác giả Việt Nam muốn tìm hiểu tác phẩm của mình đã được Google số hóa hay chưa không phải là điều dễ dàng bởi việc này phải nhờ cậy vào những người giỏi chuyên môn vi tính.

- Google chào giá 400 triệu USD/năm bản quyền tác phẩm Việt Nam.

- Tất cả các xuất bản phẩm Việt Nam sẽ không tồn tại trên bất kỳ cơ sở dữ liệu tìm kiếm nào của Google - trang công cụ tìm kiếm có lượng truy cập lớn nhất thế giới. Đó là một trong số những điều sẽ xảy ra nếu Việt Nam không đạt được thỏa thuận bản quyền với Google sau ngày 4-9-2009.

- Nếu các trang web trong nước không dàn xếp được về bản quyền và không "phá giá" của Google, thì từ sau ngày thỏa thuận với Google có hiệu lực, chủ website sẽ không được phép đăng tải bất kỳ tác phẩm nào của hơn 4.000 tác giả đã bán cho Google.

Vì sao lại đưa thông tin sai lạc như thế trong khi chỉ cần một vài thao tác kiểm chứng là biết ngay người ta nói… chuyện trên trời.

Ngược sáng

 Ngày trước lúc nào cũng nghe khuyên chụp ảnh thì đừng chụp ngược sáng. Có lẽ họ sợ chụp như thế mặt của người mẫu sẽ tối thui. Ngày nay máy...