Friday, November 9, 2018

Lưu ở đâu không quan trọng bằng xin phép người dùng

Lưu ở đâu không quan trọng bằng xin phép người dùng

....
Để bảo vệ người dùng trước các vụ rò rỉ thông tin của nhiều dịch vụ như Facebook, thậm chí lộ cả thông tin thẻ tín dụng ở nhiều trang thương mại điện tử, dự thảo nghị định cần xác lập thêm một nguyên tắc mà nay EU và nhiều nước khác đã luật hóa: doanh nghiệp phải xin phép người dùng trước khi thu thập dữ liệu người dùng, được sự đồng ý rõ ràng mới tiến hành, đồng thời cần nói rõ dữ liệu thu thập nhằm mục đích gì, có trao cho bên thứ ba để kinh doanh, đổi chác hay không. Luật An ninh mạng có nói “Chính phủ quy định chi tiết” việc doanh nghiệp thu thập, khai thác, phân tích, xử lý dữ liệu về thông tin cá nhân nên nghị định hoàn toàn có thể thêm nội dung này.

Quy định bảo vệ dữ liệu chung (GDPR) của EU cấm doanh nghiệp cung cấp dịch vụ thu thập nhiều loại dữ liệu như dữ liệu sinh trắc học nhằm mục đích nhận dạng một người nào đó, giới tính hay xu hướng tình dục, gốc gác chủng tộc... Các dữ liệu cá nhân khác chỉ được thu thập và xử lý khi có sự đồng ý của người dùng, phải cung cấp thông tin như bên thu thập là ai, thu thập nhằm đáp ứng yêu cầu gì, cơ sở pháp lý của yêu cầu đó là gì, ai sẽ nhận dữ liệu, dữ liệu lưu trong bao lâu... Đáng chú ý, quan điểm của EU là chỉ cho phép doanh nghiệp dịch vụ lưu dữ liệu khi cần xử lý, xử lý xong hay nhu cầu chấm dứt thì phải xóa ngay dữ liệu đó đi. GDPR đặc biệt nghiêm khắc với dữ liệu của trẻ em, khi bên thu thập phải có sự đồng ý của ba mẹ hay người giám hộ trẻ.

Một điểm khác cần nhấn mạnh trong các văn bản liên quan đến an ninh mạng: đó là quyền của người dùng được truy cập dễ dàng thông tin doanh nghiệp đã thu thập về mình và quyền yêu cầu doanh nghiệp xóa thông tin đó đi. Người dùng cũng có quyền yêu cầu nơi thu thập dữ liệu chỉnh sửa thông tin nếu phát hiện không chính xác, chưa hoàn chỉnh. Và một khi doanh nghiệp cung ứng dịch vụ bị tấn công mạng, bị rò rỉ thông tin thì trách nhiệm của họ là thông báo ngay, đầy đủ đến người dùng, kèm theo là biện pháp khắc phục.
...
Mời đọc toàn bài ở đây

Tuesday, November 6, 2018

Xa hơn tranh chấp Vinasun - Grab

Xa hơn tranh chấp Vinasun - Grab


Nếu Vinasun dùng Luật cạnh tranh để kiện Grab, người viết bài này sẽ ủng hộ 100% và tin chắc công lý cũng như công luận sẽ đứng về phía Vinasun. Này nhé, Luật cạnh tranh 2004 cũng như Luật cạnh tranh 2018 đều cấm “Bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh”.

Thiết nghĩ chứng minh Grab tính giá cước dưới giá thành là không khó - theo thông tin từ báo chí, doanh nghiệp này đã lỗ tổng cộng hơn 1.700 tỉ đồng trong 4 năm hoạt động, mức lỗ ngày càng tăng. Chứng minh Grab là công ty vận tải chứ không chỉ là công ty công nghệ cũng không khó: Nếu chỉ là công ty công nghệ, vì sao ghi nhận toàn bộ doanh thu từ khách hàng là doanh thu của Grab? Nếu chỉ là công ty công nghệ, vì sao Grab có những khoản lỗ lớn, bao gồm cả tiền trả cho lái xe?

Bán phá giá để dìm chết đối thủ cạnh tranh là lối chơi không đẹp, chẳng khác nào lấy tiền từ các nhà đầu tư, san sẻ cho khách hàng (trợ giá), lái xe (trợ cấp) để chiếm thị phần, đẩy giá trị thị trường của họ lên cao và hưởng lợi từ thị giá cao này!

Thế nhưng lập luận của Vinasun tại phiên tòa chẳng khác nào là lập luận thay cho ông Nhà nước đi soi Grab làm đúng luật hay chưa (vi phạm đề án 24), đóng thuế bao nhiêu, thậm chí lo cả chuyện Grab sẽ “tháo chạy” như Uber(?).

Mời đọc tiếp trên tờ Tuổi Trẻ cuối tuần:


Saturday, November 3, 2018

Hiểu dự thảo Nghị định về an ninh mạng như thế nào?


Hiểu dự thảo Nghị định về an ninh mạng như thế nào?

Dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật An ninh mạng chủ yếu nói đến hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia, chỉ có Chương 5 là liên quan trực tiếp đến doanh nghiệp và người dân.

Điều 25 đặt ra 4 điều kiện mà doanh nghiệp khi hội đủ thì phải lưu trữ dữ liệu và đặt chi nhánh hoặc văn phòng đại diện tại Việt Nam.

Điều kiện thứ nhất hầu như bao quát hết mọi doanh nghiệp nào có dịch vụ trên mạng Internet; chẳng hạn dịch vụ lưu trữ (như Dropbox); Thương mại điện tử (như Amazon); Mạng xã hội (như Facebook); Dịch vụ viễn thông (như Viber); Thư điện tử (như Gmail)…

Điều kiện thứ hai cũng có thể bao quát hết các doanh nghiệp này vì một khi họ có thu thập thông tin về người dùng (dữ liệu về thông tin cá nhân) thì thông thường họ cũng khai thác, phân tích, xử lý các loại dữ liệu này. Tuy nhiên ở đây cần lưu ý các dữ liệu cũng bao gồm thông tin do người dùng tải lên, đồng bộ hoặc nhập từ thiết bị - có nghĩa nội dung đưa lên Facebook, nội dung trao đổi qua Viber, nội dung lưu trên Dropbox hay nội dung thư điện tử trên Gmail cũng bao gồm.

Điều kiện thứ ba loại trừ khá nhiều doanh nghiệp trên (như Amazon; các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ khác như Netflix, Spotify cũng không liên quan), trừ các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ mà người dùng có tương tác, tức người dùng có thể đăng tải nội dung như Facebook, YouTube, Viber, Gmail… vì chỉ cần một hai người dùng trong số hàng triệu người dùng vi phạm những điểm nêu trong Luật An ninh mạng thì đều bị quy trách nhiệm như “Xuyên tạc lịch sử”; “Thông tin sai sự thật gây hoang mang trong nhân dân”... Đó là vì họ đã “Để cho người sử dụng dịch vụ thực hiện hành vi được quy định tại Khoản 1, 2 Điều 8 Luật An ninh mạng”.

Điều kiện thứ tư đặt ra một yêu cầu ngược. Các nơi ví dụ như Facebook phải “cung cấp thông tin người dùng cho lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thuộc Bộ Công an khi có yêu cầu bằng văn bản để phục vụ điều tra, xử lý hành vi vi phạm pháp luật về an ninh mạng”. Nếu họ cung cấp xem như không hội đủ điều kiện thứ tư nên khỏi lưu trữ dữ liệu, khỏi mở văn phòng tại Việt Nam. Nếu họ từ chối cung cấp sẽ được xem là “vi phạm quy định tại Khoản 4 Điều 8, điểm a hoặc điểm b khoản 2 Điều 26 Luật An ninh mạng” và như thế là hội đủ cả 4 điều kiện!

Ở đây ngoài việc cung cấp thông tin còn có việc phải xóa nội dung được xem là xấu, độc hại. Xóa thì thôi; không xóa là vi phạm nên xem như hội đủ điều kiện. Xem ra Nghị định được soạn rất khéo, rất thông minh. Doanh nghiệp nước ngoài khó lòng kêu ca gì nữa vì yêu cầu lưu dữ liệu và mở văn phòng ở Việt Nam không phải áp dụng cho tất cả. Chỉ áp dụng yêu cầu này cho doanh nghiệp nào để người dùng vi phạm Luật An ninh mạng và không “hợp tác” để “khắc phục” theo quy định tại Luật An ninh mạng. Nói cách khác dự thảo Nghị định này đúng như tên gọi của nó là “quy định chi tiết một số điều” mà thôi, nó không mở rộng, không làm nặng hơn Luật An ninh mạng.



Monday, October 29, 2018

Gánh nặng nợ nước ngoài


Gánh nặng nợ nước ngoài

Theo số liệu chính thức, tính đến cuối năm 2017, trong tổng dư nợ Chính phủ vào khoảng 2,593 triệu tỷ đồng thì đến 1,547 triệu tỷ đồng là vay trong nước chủ yếu thông qua phát hành trái phiếu bằng nội tệ. Nợ nước ngoài của Chính phủ chiếm hơn 1 triệu tỷ đồng một chút, chủ yếu là các khoản vay ưu đãi từ các định chế quốc tế.

Tuy nhiên, điều đáng lo nằm ở chỗ khác: Nợ nước ngoài của quốc gia vào thời điểm cuối năm 2017 là 2,451 triệu tỷ đồng bằng 49% GDP; mặc dù nằm trong giới hạn được Quốc hội cho phép (chưa vượt 50% GDP) nhưng đang tăng nhanh.

Ở đây cần lưu ý, nợ nước ngoài của quốc gia bao gồm nợ nước ngoài của Chính phủ, nợ vay nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh và cả nợ của doanh nghiệp vay nước ngoài theo phương thức tự vay tự trả. Có nghĩa doanh nghiệp tư nhân vay nợ nước ngoài, không dính dáng gì đến Chính phủ thì khoản nợ của họ vẫn phải tính vào nợ nước ngoài của quốc gia. Chính vì thế ở trên nói nợ nước ngoài của Chính phủ chỉ hơn 1 triệu tỷ đồng trong khi nợ nước ngoài của quốc gia lại lên đến gần 2,5 triệu tỷ đồng.

Trong tổng nợ nước ngoài vào cuối năm 2017, nợ nước ngoài trung hạn và dài hạn của doanh nghiệp tự vay tự trả cộng với nợ ngắn hạn của doanh nghiệp và tổ chức tín dụng lên đến 1,158 triệu tỷ đồng, cao hơn cả nợ nước ngoài của Chính phủ.

Nguyên nhân làm cho nợ nước ngoài của quốc gia tăng nhanh nằm ở các khoản tự vay tự trả của doanh nghiệp (các khoản vay trung và dài hạn tăng 22,56%, các khoản vay ngắn hạn tăng 73% so với năm 2016). Doanh nghiệp tự vay tự trả, mặc dù phải báo với Ngân hàng Nhà nước, nhưng nằm ngoài tầm kiểm soát trực tiếp của Chính phủ. 

Chẳng hạn trong mức tăng đột biến 73% các khoản vay ngắn hạn của doanh nghiệp có khoản vay nước ngoài của công ty Vietnam Beverage (đăng ký là công ty trong nước) khoảng 5 tỷ đô-la mà trước đó chúng ta cứ tưởng phía Thái Lan trực tiếp rót vào ở dạng đầu tư để mua lại cổ phần của Sabeco.

Liên quan đến nợ nước ngoài, nhiều người cứ nhầm tưởng cuộc khủng hoảng hiện nay của Thổ Nhĩ Kỳ là do tranh chấp với Mỹ hai bên áp thuế lên hàng hóa của nhau. 

Thật ra, cũng giống trường hợp Thái Lan vào năm 1997, khủng hoảng nổ ra ở Thổ Nhĩ Kỳ chủ yếu do nợ nước ngoài gây sức ép lên nền kinh tế. Những năm trước đồng vốn giá rẻ thúc đẩy các ngân hàng Thổ Nhĩ Kỳ vay ngoại tệ về cho doanh nghiệp trong nước vay lại. Chỉ cần một hai biến cố làm chủ nợ lo ngại là áp lực thu hồi nợ gia tăng, đồng nội tệ lira mất giá đến 70% từ đầu năm đến nay, khả năng trả nợ khó dần, doanh nghiệp phá sản, hệ thống ngân hàng lung lay… Nói cách khác, đó là cái giá phải trả khi vay nguồn vốn ngoại tệ thay vì dựa vào khả năng tài chính trong nước.

Đã đến lúc Chính phủ phải siết lại các khoản vay nước ngoài của doanh nghiệp dù dưới dạng tự vay tự trả nếu thực chất chúng là các khoản vốn mua lại cổ phần của doanh nghiệp Việt Nam. Nếu cứ để các công ty thực chất là của nước ngoài nhưng đăng ký là doanh nghiệp trong nước thì các khoản vay của họ sẽ thành nợ nước ngoài của quốc gia.

Trước mắt Thủ tướng Chính phủ đã giảm hạn mức vay nước ngoài của doanh nghiệp theo dạng tự vay tự trả xuống còn 5 tỷ đô-la, giảm 0,5 tỷ đô-la so với quyết định trước đó; dư nợ vay nước ngoài ngắn hạn của doanh nghiệp không vượt quá số dư nợ vào cuối năm 2017. Đây là những biện pháp tình thế cần thiết trong bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều biến động. Vấn đề là giữ vững kỷ cương phép nước để không doanh nghiệp nào được vượt rào vay quá hạn ngạch đã đặt ra, đưa các cơ quan quản lý nhà nước vào thế khó như vụ mua lại Sabeco vừa rồi.



Thursday, October 25, 2018

Khát vọng 4.0 và thực tế muốn “quản”


Khát vọng 4.0 và thực tế muốn “quản”

Tại buổi lễ khai giảng khóa mới của trường Chính sách công và Quản lý thuộc Đại học Fulbright vào đầu tuần này, TS Vũ Thành Tự Anh đã đưa ra nhận định: “Đa số chúng ta như những cổ động viên, đứng trên bến cảng hò reo và cổ vũ đoàn tầu 4.0 lướt sóng ra khơi, nhưng lại nhất định không chịu lên tàu”. Đó là cách ông đối chọi giữa sự xôn xao của cả nước về cách mạng công nghiệp 4.0 với thói quen của người Việt Nam: nói nhiều hơn làm.

Khác với cách hiểu cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 ở các nước, đặc biệt tại Đức nơi xuất phát khái niệm này chỉ xem đây là cách các nhà máy phải cải tiến để có thể tăng năng suất nhờ vào sự kết nối mọi thành phần trong dây chuyền, Việt Nam hiểu cách mạng công nghiệp 4.0 như một sự tổng hòa khi vạn vật kết nối tạo ra sự thông minh trong quản lý sản xuất, khi trí tuệ thông minh nhân tạo, rô-bốt làm thay cho con người trong nhiều hoạt động và khi dữ liệu lớn đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra các thuật toán ẩn đằng sau sự vận hành của xã hội…

Cách hiểu như vậy cũng có thể tạo ra một khát vọng không chịu tụt hậu một lần nữa như thời ông ta từng tụt hậu vì chính sách “bế quan, tỏa cảng” và nhờ thế khát vọng này tạo ra động lực thiết kế các chính sách thích ứng với thời đại đang có nhiều biến đổi.

Đáng tiếc, khát vọng thì có – dẫn tới sự hò reo và cổ vũ nhưng hành động thì tréo ngoe như những bước chân rụt rè, thối lui, không chịu lên tàu. Sự dằng co đó nhìn ở đâu cũng thấy.

Dự thảo nghị định mới nhất của Bộ Giao thông Vận tải ngó lơ loại hình “taxi điện tử”, bắt Grab, Go-Viet hay Uber nếu doanh nghiệp này còn hiện diện ở đây chịu chung những quy định kinh doanh như taxi truyền thống. Một dự thảo khác của Bộ Thông tin Truyền thông muốn các nơi cung cấp dịch vụ xuyên biên giới như Netflix, Spotify phải chịu các ràng buộc như doanh nghiệp trong nước.

Cả hai dự thảo này đều có xuất phát điểm là bảo vệ lợi ích của doanh nghiệp trong nước trước nguy cơ bị các loại hình dịch vụ xuyên biên giới đè bẹp. Sự trăn trở của người làm chính sách là có thật nhưng chỉ đáng ghi nhận khi sự trăn trở đó nhằm bảo vệ người tiêu dùng khỏi các sự cố họ từng gặp phải khi sử dụng Uber hay Grab. Ngược lại, nếu chỉ chăm chăm bảo hộ doanh nghiệp trong nước, nỗ lực chính sách như thế chẳng khác nào chuyện “bế quan, tỏa cảng” ngày xưa. Cơn sóng mô hình kinh doanh mới sẽ còn dội vào và xô đẩy nhiều doanh nghiệp khác; phải để họ làm quen với sóng dữ và tự lớn mạnh; càng che chắn chỉ càng làm họ suy yếu mà thôi

Ở những diễn biến khác, khát vọng 4.0 nếu có cũng bị triệt tiêu bởi tầm nhìn ngắn hạn. Những cá nhân khởi nghiệp sử dụng nền tảng của Facebook, Google, YouTube để thu tiền của người dùng khắp thế giới – hãy khoan chăm chăm vào việc thu cho được thuế từ họ. Họ đã và sẽ nộp thuế nhưng họ cần những chính sách động viên để nhiều người có khát vọng như thế làm được điều họ làm. Amazon đang kêu gọi và tạo điều kiện cho người Việt Nam, doanh nghiệp Việt Nam lên nền tảng này bán hàng cho khách khắp thế giới. Chúng ta đã làm được gì để khuyến khích họ ngoại trừ những tính toán thu thuế?

Mô hình kinh doanh mới dựa vào công nghệ không hẳn toàn màu hồng. Tiền ảo chưa được ứng dụng gì nhiều, lừa đảo đã nở rộ; cho vay ngang hàng chưa tiết kiệm cho nền kinh tế bao nhiêu, rất nhiều gia đình tán gia bại sản vì nó; thanh toán qua điện thoại di động chưa thâm nhập được bao nhiêu người thì dân du lịch Trung Quốc đã lợi dụng nó để trốn thuế. Nhưng nên nhớ không vì các mặt trái này mà các nước cấm đoán những mô hình kinh doanh mới. Giới ngân hàng các nước qua Trung Quốc học cách thanh toán không dùng tiền mặt của WeChat và AliPay. Trung Quốc siết cho vay ngang hàng bằng các quy định ngặt nghèo nhưng vẫn để các nền tảng này hoạt động. Chính phủ nhiều nước vẫn bỏ công sức, tiền bạc để nghiên cứu tiền ảo và công nghệ blockchain.

Nếu chỉ reo hò và cổ vũ, chúng ta sẽ không thấy được mặt trái của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Cũng tại buổi lễ khai giảng vào đầu tuần này TS Vũ Thành Tự Anh nhận xét: “Những đột phá có tính cách mạng trong thập kỷ vừa qua về khoa học và công nghệ một mặt đem lại vô vàn cơ hội, song đồng thời cũng tạo ra nhiều thách thức mới như chiến tranh và an ninh mạng, bất bình đẳng trong thời đại kỹ thuật số, hay nguy cơ thất nghiệp trên diện rộng của lao động kỹ năng thấp do những đột phá về tự động hóa và rô-bốt hóa”.

Nhưng nếu rụt chân không chịu lên tàu bằng cách đẻ ra các chính sách như thể chúng ta vô can thì tốt hơn hết là đừng nói gì thêm về cách mạng công nghiệp, kể cả thụt về 3.0.

Monday, October 15, 2018

Giảm biên chế giáo viên


Bài toán giảm biên chế giáo viên

Hiện đang nảy sinh một nghịch lý, nhiều nơi đang thiếu giáo viên (theo Bộ Nội vụ, tổng cộng 29 tỉnh, thành đề xuất tuyển thêm hơn 40.000 người) nhưng không được tuyển thêm có nơi lại đang tìm cách cắt giảm 10% biên chế giáo viên như một bước quan trọng cụ thể hóa chủ trương sắp xếp lại các đơn vị sự nghiệp công lập giai đoạn trước năm 2021.

Nghịch lý này nói lên nhiều điều; trong đó quan trọng nhất là nguyên tắc cắt giảm bất kỳ biên chế nào cũng chỉ thành công khi có kế hoạch chuyển đổi việc làm cho các biên chế bị cắt giảm. Thập niên 1990 hàng loạt cán bộ, viên chức rời bỏ việc làm trong biên chế nhà nước và ngay lập tức được thị trường lao động đón nhận bởi chủ trương khuyến khích sự ra đời và lớn mạnh của khu vực kinh tế tư nhân và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Tương tự, chủ trương “giảm tối thiểu 10% biên chế sự nghiệp hưởng lương từ ngân sách nhà nước” phải gắn liền với “giảm mạnh về đầu mối, tối thiểu bình quân cả nước giảm 10% đơn vị sự nghiệp công lập”.

Giảm như thế đòi hỏi phải có những chương trình rất cụ thể, chẳng hạn cổ phần hóa, chuyển đổi các đơn vị sự nghiệp như các hãng phim, nhà hát cải lương, trung tâm ca nhạc nhẹ, đoàn nghệ thuật múa rối, đoàn xiếc, trung tâm thông tin triển lãm, các viện bảo tàng, thư viện… Hiện nay chỉ mới cổ phần hóa hãng phim truyện Việt Nam mà cũng đã trầm trầy trầm trật, phải thanh tra và thay nhà đầu tư. Nếu không có một chương trình tổng thể, một nhạc trưởng chỉ huy việc chuyển đổi, làm sao trông mong giảm được 10% biên chế nếu không bằng cách dễ nhất là giảm giáo viên?

Một minh họa khác, chính Tổng giám đốc VTV Trần Bình Minh cho biết tại buổi làm việc giữa Thủ tướng Chính phủ và Bộ Thông tin-Truyền thông, hiện nay nhân lực làm trong ngành truyền hình đang thừa nhiều quá. Thử nghĩ vì sao tỉnh thành nào cũng có đài truyền hình để cuối cùng tính ra cả nước có đến 67 đài truyền hình và trung tâm truyền hình (một đài truyền hình địa phương trung bình có 100 người, nhiều hơn là 150 -200 người)! Phải có chủ trương chuyển các đài truyền hình này thành một bộ phận gọn nhẹ chuyên lo video trong một nền tảng đa phương tiện chủ yếu dựa vào Internet thì mới giải quyết được tình trạng thừa nhân lực như ông Minh nói.

Theo kết quả tổng điều tra kinh tế năm 2017 mà Tổng cục Thống kê mới công bố, so với năm 2012, số đơn vị hành chính, sự nghiệp tăng 2,3% lên 143.700 đơn vị và lao động tăng 11,3% lên 3,8 triệu người. Nếu tách ra, chúng ta có 34.800 đơn vị hành chánh (gần 1 triệu người); 73.600 đơn vị sự nghiệp (gần 2,5 triệu người); 35.100 đơn vị thuộc tổ chức chính trị, đoàn thể, hiệp hội (trên 237.000 người).

Trong các đơn vị sự nghiệp, chiếm tỷ lệ lớn nhất vẫn là ngành giáo dục (61,7% về cơ sở, 68,7% về lao động), sau đó là ngành y tế tỷ lệ tương ứng là 19,3% và 17%. Các ngành khác chỉ có tỷ lệ nhỏ. Chính vì vậy khi triển khai chủ trương “giảm tối thiểu 10% biên chế sự nghiệp hưởng lương từ ngân sách nhà nước” đến năm 2021 thì các địa phương biết nhìn vào đâu nếu không nhìn vào ngành giáo dục? Thế nhưng chú ý vào cụm từ “hưởng lương từ ngân sách nhà nước” chúng ta sẽ thấy chỉ cần các đơn vị sự nghiệp như các chi cục thú y, chi cục bảo vệ thực vật, trung tâm khuyến nông, trung tâm công nghệ thông tin, cảng vụ… chuyển đổi mô hình hoạt động, tự chủ về tài chính, thậm chí chỉ cần chuyển đổi quan hệ lao động thì mục tiêu giảm 10% biên chế vẫn có thể đạt được mà không cần nhìn vào ngành giáo dục như hiện nay.

Quay trở lại vấn đề giảm biên chế giáo viên, một điểm khác có thể rút ra là việc tuyển dụng giáo viên lại không nằm trong thẩm quyền của ngành giáo dục mà nằm trong tay chính quyền địa phương. Để thay đổi điều này, trách nhiệm chính là ở Bộ Giáo dục và Đào tạo. Bộ phải có những nghiên cứu, có ứng dụng công nghệ thông tin, để dự báo cho chính xác nhu cầu giáo viên của từng cấp học, từng địa phương, xác định rõ cung cầu giáo viên từng thời điểm để từ đó chuyển thông tin chính xác về các sở Giáo dục – Đào tạo ở từng tỉnh thành, các phòng Giáo dục – Đào tạo ở từng huyện để những nơi này, trong giai đoạn đầu, tham mưu cho chính quyền địa phương trong tuyển dụng hay giảm biên chế giáo viên. Chính quyền địa phương là nơi trả lương cho giáo viên nên họ có quyền tuyển dụng hay sa thải nhưng Bộ phải đòi hỏi thông tin đầu vào của mình phải được đáp ứng – bằng không chính quyền trung ương sẽ cắt giảm ngân sách cho địa phương đó theo đề nghị của Bộ.

Từng bước Bộ phải xây dựng cơ sở dữ liệu để quản lý ít nhất là giáo viên cấp phổ thông trung học để có thể tiếp nhận, điều động giáo viên từ địa phương thừa đến địa phương thiếu. Giáo dục mà làm theo đơn vị huyện thì khó lòng điều chuyển giáo viên thừa ở huyện này đến huyện khác đang thiếu nên vai trò của Bộ cũng phải là đầu mối nắm rõ thông tin cụ thể, chi tiết đến từng giáo viên khi đó mới đòi được quyền can thiệp vào quy trình tuyển dụng nhân lực cho ngành.  

Điểm thứ ba rút ra từ nghịch lý nơi thừa nơi thiếu giáo viên là chuyện biên chế hay hợp đồng. Vướng mắc hiện nay phần nào cũng do chúng ta quá xem nặng chuyện biên chế trong khi không thấy được biên chế đang là rào cản cho ngành giáo dục cải tổ chất lượng đội ngũ giáo viên của mình. Những giáo viên không theo kịp các cải cách của ngành không bị đào thải theo quy luật để nhường chỗ cho thế hệ mới được đào tạo bài bản hơn.

Ngay cả đề xuất tuyển 40.447 giáo viên của 29 tỉnh thành chỉ vướng mắc ở khía cạnh biên chế chứ còn ký hợp đồng lao động bình thường như những ngành khác thì đâu có vấn đề gì – địa phương đã đề xuất, ắt đã có kinh phí để trả lương. Kết hợp với thông tin từ Bộ về nhu cầu giáo viên, chuyện tuyển thêm giáo viên cho phù hợp với lượng học sinh tăng lên là hoàn toàn có thể giải quyết dễ dàng. Việc chạy chọt để có một chỗ dạy thực chất cũng vì quan niệm “biên chế nhà nước” chứ dùng quan hệ hợp đồng để chi phối, ắt nạn chạy việc không đến nỗi như dư luận phản ánh. Hiện nay số giáo viên dạng hợp đồng chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ, chủ yếu ở cấp tiểu học và trung học cơ sở; hầu hết giáo viên cấp phổ thông trung học đều nằm trong biên chế.  

Để dư luận hiểu đúng bản chất của câu chuyện biên chế, thiết nghĩ không nên sử dụng cụm từ “bỏ biên chế” mà chỉ nói rõ giáo viên không phải là công chức hay viên chức nhà nước. Giáo viên là giáo viên cùng với những trách nhiệm và quyền lợi mà nhà nước phải lo như một đội ngũ nhân lực quan trọng để đào tạo những thế hệ công dân tương lai. Thậm chí sửa luật để có thêm một danh xưng trong hành chính cho danh chính ngôn thuận cũng không phải là vấn đề lớn.


Saturday, October 13, 2018

Phạt tiền trong giáo dục


Phạt sao cho đúng

Giới giáo chức lại xôn xao vì một dự thảo xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục, nghe đâu mức phạt tối đa đối với cá nhân lên đến 50 triệu đồng. Thật ra các báo khi đưa tin đều nhầm lẫn về dự thảo này.

Đây là một nghị định được dự thảo để thay thế Nghị định số 138/2013/NĐ-CP ngày 22/10/2013. Nói cách khác chuyện phạt dạy thêm không phép, phạt hành vi xúc phạm danh dự hay thân thể nhà giáo là đã có từ năm năm nay chứ không phải là tin mới.

Nhìn qua thì thấy dự thảo này mới so với Nghị định mà nó thay thế ở chỗ tăng mức phạt lên, tăng cả tiền lẫn xử phạt bổ sung như tước quyền sử dụng giấy phép, chia nhỏ các hình thức vi phạm, bổ sung các hành vi vi phạm…

Thế nhưng ở đây có một chuyện trái khoáy: Nghị định xử phạt vi phạm hành chính thường phải dựa vào luật; chẳng hạn, luật quy định giáo viên không được “ép buộc học sinh học thêm để thu tiền” thì khi đó Nghị định mới đưa ra mức phạt để chế tài các hành vi vi phạm điều này. Hiện nay Luật Giáo dục (sửa đổi) vẫn còn nằm trên bàn các đại biểu Quốc hội, đã được đem ra tranh luận nhiều lần, đã có đến 5 bản dự thảo vẫn chưa ngả ngũ. Luật gốc chưa có đã vội vàng đưa ra dự thảo nghị định xử phạt hành chính, làm sao biết được hành vi nào là vi phạm để xử phạt đây?

Ở đây chỉ xin lấy một ví dụ minh họa từ dự thảo Luật Giáo dục (sửa đổi) lần thứ 5 hiện có trên trang Dự thảo Online của Quốc hội. Trong các hành vi mà nhà giáo không được làm ở điều 69, có chuyện “ép buộc học sinh học thêm để thu tiền”. Như thế Nghị định chỉ có thể xử phạt hành vi “ép buộc học sinh học thêm để thu tiền” chứ làm sao có thể quy định: “Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với giáo viên đang hưởng lương từ quỹ lương đơn vị sự nghiệp công lập tổ chức dạy thêm ngoài nhà trường”. Nói như vậy hóa ra giáo viên trường tư thì dạy thêm thoải mái, giáo viên trường công lại bị cấm!

Ép buộc học sinh của mình đi học thêm ở nhà mình là một hành vi đáng lên án, phạt bao nhiêu cũng được, phạt càng nặng, phụ huynh càng đồng tình. Nhưng viết như dự thảo không lẽ bất kỳ giáo viên có biên chế nào tổ chức dạy thêm ngoài nhà trường điều bị phạt, kể cả dạy cho học sinh trường khác, kể cả dạy thêm ở các lớp tình thương, kể cả dạy thêm cho con em hàng xóm không lấy tiền? Đã gọi là quy định pháp luật thì phải viết cho chặt chẽ, bao quát hết mọi tình huống. Trong đời thật không hiếm trường hợp cô giáo, thầy giáo tổ chức dạy thêm ở nhà cho các em thất học, ra đời sớm, các em con nhà nghèo không đủ khả năng đi học chính thức. Không lẽ đi phạt những thầy cô này chỉ vì soạn dự thảo không rõ ràng, thiếu chặt chẽ?

Rất có thể chúng ta sẽ đồng tình với quy định: “Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với hành vi dạy thêm cho học sinh tiểu học hoặc học sinh đã học hai buổi trên ngày” bởi tệ nạn o ép học sinh nhỏ tuổi, luôn sợ và nghe lời thầy cô để ép học thêm không cần thiết. Thế nhưng viết như dự thảo hàm ý giáo viên nào dạy thêm cho học sinh không phải là tiểu học hay không học ngày hai buổi là ổn, không bị phạt? Hiểu như thế là ngược với các quy định khác về các hành vi vi phạm chuyện dạy thêm khác.

Hay với quy định này: “Phạt tiền từ 6.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng đối với hành vi cắt giảm nội dung trong chương trình giáo dục phổ thông chính khoá để đưa vào nội dung dạy thêm, dạy thêm trước những nội dung trong chương trình giáo dục phổ thông chính khoá”. Rõ ràng ai cũng sẽ đồng tình chuyện phạt giáo viên nào nhẫn tâm cắt giảm nội dung khi dạy chính khóa để ép học sinh đi học thêm mới được dạy đầy đủ. Thế nhưng với vế sau của quy định “dạy thêm trước những nội dung trong chương trình giáo dục phổ thông chính khoá” làm sao phạt được và tại sao lại phạt. Giả thử giáo viên được cấp phép dạy thêm một cách đàng hoàng, họ dạy cho học sinh bằng cách đi trước chương trình một hai bài cũng không được?  Vì sao?

Nghị định cũ quy định về các vi phạm trong chuyện dạy thêm rất gọn nên chặt chẽ. Đó là dạy thêm không đảm bảo cơ sở vật chất theo quy định; không đúng đối tượng; không đúng nội dung đã được cấp phép; khi chưa được cấp phép. Chỉ chừng đó thôi chứ không chẻ nhỏ ra như dự thảo nghị định thay thế.

Khi các luật làm nền tảng cho nghị định xử phạt hành chính chưa thay đổi hay không thay đổi các quy định liên quan đến chuyện dạy thêm thì không được tự tiện thay đổi nội dung hành vi bị xử phạt chỉ nhằm để tiện lợi cho việc quản lý hành chính của mình.



Nhà hát giao hưởng và “post-truth”


Nhà hát giao hưởng và “post-truth

Trong một bài trước đây, chúng ta đã có dịp làm quen với khái niệm “hậu sự thật” (post-truth), là tình huống khi người ta không còn dựa vào dữ kiện khách quan để minh định đúng sai mà mọi tranh luận đều dựa vào xúc cảm hay niềm tin của cá nhân. Trong thực tế hiện tượng “hậu sự thật” diễn ra ngày càng rõ nét, đang chi phối các dòng tự sự của xã hội.

Lấy ví dụ cuộc tranh cãi nên hay không nên bỏ ra hơn 1.500 tỷ đồng xây nhà hát giao hưởng tại Thủ Thiêm. Ở đây không dám nói bên nào đúng bên nào sai; chúng ta chỉ xem “hậu sự thật” chi phối lập luận của hai bên như thế nào?

Rất ít ý kiến dựa vào “facts” (dữ kiện khách quan) – những “facts” rất quan trọng có thể làm chuyển hướng cuộc tranh luận. Chẳng hạn, không thấy ai lập luận, ngày xưa, tức từ năm 1999, TPHCM đã quyết định xây nhà hát giao hưởng tại số 23 Lê Duẩn – nay khu đất này bán đi thì tiền thu được (gần 1.700 tỷ đồng) phải dành cho việc xây nhà hát giao hưởng (bởi lý do bán trụ sở Công ty Xổ số kiến thiết là để xây nhà hát). Đó là xuất phát điểm mà thiết nghĩ mọi người phải chú ý đến. Nếu có tranh cãi, chỉ nên tranh cãi xem xây ở nơi nào là hợp lý (chẳng hạn có nên xây ở Công viên 23-9 như kế hoạch từ năm 2009 hay dời sang Thủ Thiêm như quyết định từ năm 2016).

Các “facts” khác cũng quan trọng như sự việc Nhà hát giao hưởng nhạc vũ kịch TPHCM là một thực thể đã tồn tại từ năm 1993, hiện vẫn hoạt động biểu diễn khá thường xuyên. Không ai chịu đi hỏi họ biểu diễn tại Nhà hát Thành phố thì có trở ngại gì không, số khách xem nhiều hay ít. Ví dụ vào ngày 28/10 sắp tới Nhà hát Giao hưởng có chương trình nhạc kịch “Con Dơi” giá vé từ 350.000 đến 900.000 đồng; tháng 11 có vũ kịch Giselle nổi tiếng… Giả dụ có người đến dự, chụp được khán phòng đông cứng chật nít hay vắng hoe chỉ có vài người – có lẽ cuộc tranh luận có nên xây nhà hát giao hưởng không sẽ không mắc bẫy “post-truth”.

Tình hình “hậu sự thật” đậm nét ở buổi đầu cuộc tranh luận khi nó diễn ra chủ yếu trên mạng xã hội – đến khi chuyển sang báo chí chíng thống, tính “hậu sự thật” giảm dần vì nhiều báo cũng cố công đi tìm dữ kiện khách quan, phỏng vấn được những người trong cuộc.

Tranh luận có nhiều mục đích; những cuộc tranh luận hữu ích đều cố tìm giải pháp. Và giải pháp chỉ xuất hiện nếu dựa vào “dữ kiện khách quan” chứ còn dựa vào xúc cảm, tức rơi vào tình huống “hậu sự thật” thì có thể thuyết phục người nghe một bên, gây bức xúc ở bên còn lại chứ đích đến là giải pháp ngày sẽ càng xa vời.

Dòng thời sự hàng ngày luôn có các tình huống post-truth như thế khi “fact” được đưa ra nửa vời hay cắt khúc để tô đậm thiên kiến đã có sẵn.

Nếu bỏ công nghe ông Trump nói về việc cử người thay đại sứ Mỹ tại Liên hiệp quốc vừa mới từ chức, sẽ thấy ông ta đâu có ý định cử con gái là Ivanka đâu. Có ai đó nhắc đến tên Ivanka, ông Trump bèn nói, đại ý, con tôi mà làm thì ngon lành rồi nhưng thiên hạ sẽ chê cười đó là nạn gia đình trị. Ý này được nói tới nói lui nhiều lần. Thế mà nhiều báo rút tít “Trump nói không ai có năng lực bằng con tôi khi thay Nikki Haley làm đại sứ tại LHQ”; “Trump nói Ivanka sẽ rất năng động ở LHQ”; “Trump tin con gái Ivanka sẽ ‘xuất sắc’ nếu làm đại sứ LHQ”; “Trump tuyên bố con gái ông là người phù hợp nhất cho vị trí đại sứ Mỹ tại LHQ”. Dĩ nhiên trong phần đưa tin, hầu hết đều tường thuật đúng những gì ông Trump nói về gia đình trị nhưng rút tít như thế (các tít này được chia sẻ mạnh trên mạng xã hội) là không đúng, không sòng phẳng, là một dạng “hậu sự thật”.

Một ví dụ ngược lại cũng liên quan đến ông Trump. Dẫn nguồn một khảo sát của Media Research Center cho thấy 92% tin tức về Donald Trump trên các đài ABC, CBS và NBC là tiêu cực, ông Trump bèn nhắc lại kết luận này và kèm một lời nói thêm - “fake news”. Tin giả như hầu hết mọi người đều thừa nhận là tin nói không thành có, tin bịa đặt, tin sai lệch – tức phải dựa trên “dữ kiện khách quan” đối chiếu với thực tế mới có thể xác định một tin có phải là “fake news” hay không. Đằng này với ông Trump, tin giả đồng nghĩa với tin tiêu cực, tin xấu, tin nói không hay về ông. 

Cách dán nhãn mọi ý kiến, mọi nhận định không hợp ý mình là “tin giả” có lẽ là một minh họa rõ nét nhất cho hiện tượng “hậu sự thật” mà xã hội hiện đại đang chứng kiến với quy mô chưa từng có.

Cập nhật: Xin bổ sung một "fact" rất thú vị của nhà báo Lưu Trọng Văn: Giá trị thật của nhà hát giao hưởng xây ở Thủ Thiêm phải cộng thêm giá trị đất mà ông tính đâu khoảng 2.400 tỷ đồng, tức cộng lại phải là 3.9000 tỷ đồng.



Cố tình nói chưa hết ý


Cố tình nói chưa hết ý

Nhiều người khen bài “Surprising Truths About Trade Deficits” của GS Gregory Mankiw là hay, dễ đọc. Đúng là bài này phê phán quan điểm thương mại của Tổng thống Donald Trump, nhất là về thâm hụt thương mại một cách dễ hiểu, thậm chí học sinh trung học đọc cũng hiểu được cặn kẽ ý tác giả. Có lẽ tác giả chọn lối viết này để nhỡ Trump có đọc thì cũng hiểu một giáo sư kinh tế đại học Harvard muốn nói gì.

Tuy nhiên, tác giả đã nói không hết ý. Hay nói cách khác, để chê Trump hiểu sai về thâm hụt thương mại, lẽ ra tác giả phải nói thẳng, đây là lợi thế trời cho của Mỹ, có khùng mới đòi giải quyết thâm hụt. Lẽ ra tác giả phải mắng Trump, ở đó mà than thâm hụt, nếu không thâm hụt, thế giới đâu thèm dùng đô-la Mỹ làm đồng tiền dự trữ như hiện nay!

Đầu tiên xin tóm tắt ý chính của bài “Surprising Truths About Trade Deficits”: Tổng thống Trump thường lẫn lộn, cho rằng Mỹ chịu thâm hụt mậu dịch tức Mỹ đang thua thiệt. Mankiw bác bỏ bằng cách ví von chuyện gia đình ông đi ăn tối tại tiệm không mua cuốn sách nào của ổng, tức ông đang chịu thâm hụt với tiệm ăn này. Điều này không sao cả vì ông có thặng dư với nơi khác như báo NYT đang trả nhuận bút cho ông cao gấp nhiều lần tiền ông trả để mua báo.

Xét tổng thể thương mại với mọi nước, một sự thâm hụt chỉ đáng lo khi nước chịu thâm hụt không đủ khả năng chi trả trong tương lai cũng như một gia đình làm ra thì ít, ăn tiêu lại nhiều. Nếu gia đình này mua xe hơi, tức chịu thâm hụt lớn nhưng không đáng lo nếu họ có khả năng trả dần nên cả nước cũng vậy. Dù sao thâm hụt tổng thể của một nước là do cách chi tiêu và tiết kiệm của nước đó chứ đâu phải do các đối tác thương mại đang có thặng dư?

Lập luận trên có lẽ đúng với hầu như mọi nước trên thế giới – trừ Mỹ. Mỹ có một lợi thế trời cho, một đặc quyền hiếm có – xách tiền của chính mình (tức đồng đô-la Mỹ) trực tiếp đi mua hàng khắp nơi trên thế giới chứ không cần chuyển qua đồng tiền trung gian nào cả. Nước khác chịu thâm hụt trước sau khi cũng chịu sức ép lên đồng tiền của nước mình còn Mỹ thì không. Các nước nhận tiền của Mỹ để bán hàng cho Mỹ phải cố gắng duy trì giá trị của nó, bằng không họ sẽ chịu thua thiệt.

Nói cách khác, Mỹ phải chọn lựa giữa hai cái: một là thâm hụt và đồng tiền nước mình được sử dụng làm đồng tiền dự trữ cho thế giới; hai là giảm thâm hụt thì thế giới đâu có đủ đô-la Mỹ để tạo thanh khoản. Chọn một trong hai chứ không thể chọn cả hai. Mỹ luôn phải đi vay về để chi tiêu – họ làm điều đó một cách khoái trá vì chi phí in tờ bạc 100 đô-la màu xanh ít hơn rất nhiều so với mớ hàng hóa tờ 100 đô-la đó có thể đổi được.


Tuesday, September 25, 2018

Quả bóng trong chân các trường đại học


Quả bóng trong chân các trường đại học

Nguyễn Vạn Phú

Để giải quyết các vướng mắc hiện nay của kỳ thi trung học phổ thông, việc đầu tiên là chấm dứt cách nhìn đây là kỳ thi “2 trong 1” vì thi cử chứ đâu phải bán hàng mà cứ rao “2 trong 1”! Nhưng như thế thì các trường đại học phải làm gì để thoát tình trạng hụt hẫng khi không thể dựa vào điểm thi?

Trả kỳ thi THPT quốc gia về đúng vai trò của nó là dùng để xét tốt nghiệp, ngay lập tức hàng loạt vấn đề sẽ được giải quyết. Đề thi không còn bị chê là quá khó, không phải khoác lên mình nó cả chức năng vừa kiểm tra kiến thức vừa đánh giá năng lực. Động cơ tiêu cực tìm mọi cách để sửa điểm, nâng điểm cũng bị triệt tiêu khi điểm thi không còn là yếu tố dùng để chạy đua vào các trường đại học hàng đầu nữa. Bộ Giáo dục có thể tính toán để mức điểm thi cao hơn mọi năm và nhờ đó giảm tỷ trọng điểm học bạ trong cơ cấu điểm xét tốt nghiệp. Vấn đề còn lại là gánh nặng bây giờ rơi vào các trường đại học, làm sao để tuyển sinh khi không còn dựa hoàn toàn vào kết quả kỳ thi THPT?

Thật ra, Luật Giáo dục đại học đã quy định khá rõ từ mấy năm nay: trường đại học có quyền quyết định phương thức tuyển sinh và chịu trách nhiệm về công tác tuyển sinh trong đó Luật cũng nói: Phương thức tuyển sinh gồm thi tuyển, xét tuyển hoặc kết hợp giữa thi tuyển và xét tuyển. Không ai bắt trường đại học phải lấy điểm thi tốt nghiệp THPT để xét tuyển thí sinh đủ tiêu chuẩn vào trường mình.

Chúng ta thường nhìn từ góc cạnh thí sinh chen nhau vào cổng trường đại học chứ ít ai nhìn từ góc cạnh các trường đại học cạnh tranh nhau hút học sinh tốt nghiệp vào trường mình. Đó là bởi quán tính suy nghĩ trường tốt chọn học sinh có điểm cao trong khi đúng ra việc tuyển sinh đại học phải là sự cân nhắc từ cả hai phía để mục đích cuối cùng là tìm sự “hòa hợp”, học sinh vào đúng trường phù hợp với con người của mình nhất và trường chọn đúng học sinh có tiềm năng đóng góp xây dựng nền tảng danh tiếng của nhà trường nhất.

Nhìn từ góc độ đó mới thấy hầu hết các trường đại học đã lãng tránh trách nhiệm khi chỉ dùng duy nhất điểm thi THPT hay điểm học bạ để xét tuyển; chỉ một ít trường tổ chức kỳ thi tuyển sinh riêng cho mình và hầu như không ai nghĩ đến chuyện xét tuyển bằng các phương thức trực tiếp như phỏng vấn. Giả thử đề thi THPT sang năm dễ hơn nhiều vì chỉ để xét tốt nghiệp, các trường đại học làm sao dựa vào điểm thi để tuyển đúng sinh viên cho mình? Với các trường nổi tiếng luôn thu hút học sinh, nếu ai cũng điểm cao như nhau, làm sao biết thực học của các em để chọn đúng; làm sao tránh tình trạng chỉ tuyển được các em điểm cao nhờ được cộng nhiều loại điểm ưu tiên? Với các trường bình thường, dựa vào điểm tức đã bỏ qua thế mạnh của mình, không có những phương thức chiêu dụ học sinh, không tạo ra được sự cạnh tranh để hút học sinh về cho mình.

Tuyển sinh bằng điểm thi THPT sẽ dẫn tới những bất hợp lý khó lòng giải tỏa. Đăng ký học ngành kinh tế nhưng điểm xét tuyển là Toán, Lý, Hóa thì xem như hỏng việc vì những kỹ năng làm nền tảng cho một người học tốt kinh tế học lại là ngoại ngữ, đọc hiểu, viết lách, thuyết trình, suy luận lô-gich, kể cả hiểu biết về văn hóa. Sinh viên tương lai của một trường đại học sư phạm phải có lòng yêu trẻ, say mê truyền thụ kiến thức nhưng đồng thời phải có kỹ năng giao tiếp. Những đặc điểm nói lên cá tính từng con người làm sao bộc lộ được qua các con số điểm thi vô hồn. Chính vì thế mặc dù vẫn còn dựa vào các kỳ thi chuẩn hóa kiến thức nhưng các trường đại học ở nước ngoài đâu tranh nhau lấy theo thứ tự từ điểm cao nhất lấy xuống? Có những em điểm thi cao vẫn bị từ chối trong khi cũng trường đó lại nhận em điểm thi thấp hơn nhiều.

Thực tế dù còn ít nhưng một số trường sử dụng một kỳ thi đánh giá năng lực riêng của mình rồi vừa dựa một phần vào điểm thi THPT và một phần vào điểm thi của kỳ thi riêng đã tạo ra những chuyển biến bất ngờ. Các trường này trước đây vất vả lắm vẫn không tuyển đủ sinh viên theo mức điểm chuẩn trường đưa ra nay lại dễ dàng đạt con số chỉ tiêu tuyển sinh. Có lẽ khi đặt học sinh trước một thử thách là kỳ thi gắn liền với tên tuổi của trường các em sẽ có động lực mạnh hơn khi chọn lựa. Có lẽ học sinh muốn được đánh giá đúng đắn, chứ không còn tin vào điểm thi tốt nghiệp bị tác động bởi nhiều yếu tố khác.

Một trong những lý do các trường đại học đưa ra để lãng tránh tổ chức tuyển sinh theo con đường riêng của mình là thiếu nguồn lực, hay nói thẳng ra là không có tiền để làm. Một việc rất dễ mà hầu như tuyển sinh đại học hay sau đại học nào ở nước ngoài đều làm là bắt thí sinh nộp kèm hồ sơ một bài luận về một đề tài nào đó. Cái này đâu tốn kém nhiều trong khi hiệu quả đo lường năng lực, cá tính, sở thích, năng khiếu của thí sinh là rất cao. Một thí sinh điểm thi cao nhưng bài luận viết cẩu thả, sai chính tả, diễn đạt ý không rõ ràng, tuyển vào cũng khó trở thành sinh viên giỏi. Một thí sinh với bài luận dí dỏm, có óc hài hước, có tầm nhìn bao quát nhiều lúc chính là nhân vật trường đang cần. Một em nhờ người lớn viết theo kiểu văn mẫu bay bổng sẽ bị phát hiện ngay.  

Để khỏi ngồi than thở về trình độ đầu vào của các khóa đào tạo, các trường phải chủ động tìm cách tuyển sinh riêng cho mình, nhất là trong bối cảnh sẽ có những thay đổi về quan điểm kỳ thi THPT. Có bài thi năng lực riêng, yêu cầu viết bài luận, kể về các hoạt động xã hội hay trực tiếp phỏng vấn – chọn các nào là tùy theo điều kiện của từng trường nhưng tự chủ đại học phải bắt đầu từ chuyện tuyển sinh.



Saturday, September 8, 2018

Post-truth là gì?


Cái bẫy “hậu sự thật”

Nguyễn Vạn Phú

Giả sử bạn vướng vào một cuộc tranh luận trên mạng giữa một bên nói chương trình đào tạo thạc sĩ chống tham nhũng là chuyện tào lao, không cần thiết, chỉ mang tính phô trương và bên kia cho rằng một chương trình như thế là không thể thiếu vì sẽ trang bị kiến thức được hệ thống hóa về tham nhũng, các biểu hiện, các giải pháp mà quản trị nhà nước cần nắm. 

Bạn bỏ công tìm tòi và đóng góp một bài dài vào cuộc tranh luận về các chương trình tương tự mà các nước khác đã tổ chức, kể cả mục đích của việc đào tạo, việc làm kỳ vọng sau tốt nghiệp... Ý kiến của bạn rơi vào khoảng không; hai bên tiếp tục tranh cãi, không thèm đếm xỉa đến những số liệu công phu bạn đưa ra.

Đó là một tình huống có thể dùng để minh họa cho một khái niệm mới: hậu sự thật, hậu chân lý (post-truth) mà thế giới đang bàn tán nhất là sau khi tin giả xuất hiện khắp nơi. Chữ “hậu” ở đây mang nghĩa vượt lên trên, vượt qua, bỏ lại đằng sau… ý nói sự thật là không quan trọng bằng cái đằng sau sự thật. 

Hậu sự thật là một tình huống khi người ta không còn dựa vào dữ kiện khách quan để minh định đúng sai mà mọi tranh luận đều dựa vào cảm tính, vào xúc cảm nảy sinh và dẫn dắt luồng suy nghĩ. Một khi dư luận hình thành do các hô hào đánh vào lòng yêu ghét, giận dữ, thương cảm chứ không phải từ sự thật, đó là một xã hội hậu chân lý!

Nhân vật được nhắc đến nhiều nhất mỗi khi bàn đến “post-truth” là Tổng thống Mỹ Donald Trump. Với ông Trump, hậu sự thật đến từ cả hai phía. Một bên thì báo chí Mỹ săm soi vào tất cả các phát biểu của ông, đếm ra bao nhiều lời nói sai sự thật hay gây nhiễu thông tin (Washington Post đếm trong 466 ngày nhậm chức, ông Trump có 3.001 tuyên bố kiểu như thế, trung bình 6,5 phát biểu mỗi ngày!). 

Bên kia ông Trump liên tục viết các câu chê bai báo chí là “fake news” (tin giả); ví dụ sau khi đưa ra những con số chứng tỏ tỷ lệ thất nghiệp ở Mỹ đang xuống mức thấp kỷ lục, GDP đăng tăng cao nhất… Trump dè bỉu báo chí cứ chăm chăm vào tin xấu mà không chịu thừa nhận thực tế khách quan này. Nhìn vào không gian chính trị Mỹ theo cách đó dường như sẽ thấy hai tháp ngà bọc bởi những bong bóng khổng lồ, bên trong ồn ào tiếng cãi vã nhưng không lọt nổi ra ngoài chứ chưa nói đến thấm vào tháp ngà bên kia. Đó là những quả bóng “post-truth”.

Mạng xã hội là nơi hậu sự thật thắng thế, lan tràn. Trong khi báo chí còn phải qua nhiều tầng nấc kiểm chứng, xác minh thông tin trước khi đăng, bất kỳ ai cũng có thể dùng mạng xã hội để lôi kéo người khác tin theo câu chuyện của mình, bất kể sự thật. 

Ai trong chúng ta từng dùng mạng xã hội đều đã có lần phẫn nộ, thương cảm, giận dữ, vò đầu bứt tai vì bức xúc trước một câu chuyện nào đó mà sau này bị phát hiện là không chính xác. Cũng may là với đa số người dùng, sự thật vẫn còn khả năng vượt thắng; cảm xúc sẽ bị chế ngự khi biết sự thật. Nhưng xu hướng bất chấp sự thật để tiếp tục giận dữ, bức bối một cách cảm tính trong một tình huống hậu sự thật là có thật và ngày càng lan rộng.

Tuy nhiên, hậu sự thật là một khái niệm buông xuôi, phó mặc cho xúc cảm chi phối đến nhận thức trong khi thực tế vẫn cần các bên thừa nhận nhiều chân lý làm nền tảng, bộ khung và chất kết dính cho xã hội hiện đại. Hậu sự thật chỉ có thể xuất hiện trong một số tình huống và để khỏi rơi vào cái bẫy hậu sự thật, phải làm cho các tình huống này ngày càng hẹp lại. 

Trong quá trình này kỹ năng kiểm chứng thông tin để củng cố sự thật, bác bỏ thông tin cố ý làm cho sai lệch là kỹ năng mới, rất cần thiết. Và quan trọng nhất là đừng xem hậu sự thật như một điều hấp dẫn, lôi cuốn đầy ma mị - buông sự thật để cùng tác động vào tình cảm như đối thủ tranh luận là một chọn lựa dễ theo nhưng sẽ không đi đến đâu vì tách rời chân lý.

Có thể trông chờ báo chí chính thống để ngăn đà tụt dài vào xã hội hậu sự thật được không? Đó là vai trò của báo chí từ xưa đến nay với điều kiện chúng ta đừng tạo bộ lọc để chọn nhận tin này và đóng cửa với tin kia. Con người có xu hướng thích đọc những gì họ muốn nghe và lướt qua hay ngó lơ những điều không muốn nghe. Ngày xưa thì khó hơn vì dù sao phải đọc cả tờ báo hay xem trọn chương trình thời sự. Nay thì dễ hơn nhiều khi có những nơi chọn tin giùm bạn như cái dòng cấp tin trên Facebook sẽ trao cho bạn tin bạn muốn đọc hay bạn bè bạn muốn chia sẻ. 

Người muốn toàn tin xấu sẽ nhận toàn tin xấu; người trông chờ tin tốt sẽ tràn ngập tin tốt – khỏi cần băn khoăn. Mở rộng cõi lòng để đón nhận tất cả mới mong trụ lại ở thế giới này, không bị lôi xuống vòng xoáy của một thế giới hậu sự thật.



Wednesday, August 29, 2018

Nhìn nơi khác khi tìm cách thu


Nhìn nơi khác khi tìm cách thu

Dai dẳng một địa chỉ nhiều nơi cứ chăm chăm nhắm đến mỗi khi nghĩ cách thu tiền, nhất là tiền thuế: tài khoản ngân hàng. Khi đề xuất sửa đổi bổ sung Luật Quản lý thuế, Bộ Tài chính đưa vào dự thảo nội dung luật sẽ giao cho Bộ Tài chính phối hợp với Ngân hàng Nhà nước để hướng dẫn các ngân hàng thương mại trước khi chuyển tiền thanh toán từ các tổ chức, cá nhân trong nước cho các bên cung cấp dịch vụ nước ngoài phải khấu trừ số thuế mà bên cung cấp dịch vụ nước ngoài phải nộp vào ngân sách.

Hiện nay những doanh nghiệp chạy chiến dịch quảng cáo trên Facebook, Google, YouTube đều phải tự khấu trừ thuế nhà thầu (gồm 5% thuế thu nhập doanh nghiệp và 5% thuế giá trị gia tăng) trước khi chi trả cho Facebook hay Google. Động lực ở đâu để họ khấu trừ? Đó là bởi nếu làm đúng quy định, khoản chi này sẽ được xem là chi phí hợp lệ và được trừ vào thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp. Các khách sạn, khu nghỉ dưỡng hiện đang nhờ các trang mạng như Booking.com, Agoda, Expedia… bán phòng giùm cũng phải nộp thuế nhà thầu thay cho các nơi này.

Nay theo tinh thần của dự thảo Luật Quản lý thuế, doanh nghiệp trong nước được miễn trách nhiệm khấu trừ này mà chuyển sang cho các ngân hàng thương mại nơi có tài khoản thanh toán của các dịch vụ liên quan!

Thật không hiểu nổi vì sao Bộ Tài chính lại muốn làm phức tạp hóa một vấn đề tưởng đâu đã rõ. Trước hết tài khoản ngân hàng của doanh nghiệp hay cá nhân là một nơi bất khả xâm phạm; không ai ngoài chủ tài khoản được quyền yêu cầu ngân hàng thương mại nhón tay lấy bất kỳ khoản tiền nào trong tài khoản được, trừ phi đó là lệnh của tòa án, thi hành một phán quyết nào đó. Trên cơ sở nào cơ quan thuế yêu cầu ngân hàng thương mại khấu trừ thuế từ tài khoản? Ngay cả tòa án trước tiên cũng thường ra lệnh phong tỏa tài khoản, tức đóng băng tài khoản chứ không phải đụng chạm, xử lý các khoản tiền cụ thể trong tài khoản.

Ngược lại, thuế nhà thầu mà doanh nghiệp hiện đang nộp thay cho các nơi cung cấp dịch vụ nước ngoài là theo đúng thông lệ quốc tế, tên gọi loại thuế này (withholding tax) cũng cho thấy bản chất “giữ tiền lại giùm cho nhà nước”. Nếu cần sửa đổi, bổ sung là sửa đổi bổ sung các quy định để doanh nghiệp dễ dàng hợp thức hóa khoản chi trả này chứ không phải chuyển trách nhiệm khấu trừ cho nơi khác.

Tương tự như thế Bộ Giao thông, trong dự thảo sửa đổi Luật Giao thông đường bộ cũng đề xuất chủ ô tô phải có tài khoản ngân hàng để dễ trích tiền xử phạt vi phạm giao thông, nhất là các khoản phạt nguội. Giả thử chủ ô tô có tài khoản ngân hàng và bị phạt vượt đèn đỏ, liệu ngân hàng thương mại nơi mở tài khoản có mạnh dạn chuyển khoản tiền phạt cho kho bạc nhà nước khi chưa có lệnh của chủ tài khoản?

Trong khi đó không thiếu gì cách để buộc chủ ô tô phải nộp phạt đầy đủ trước khi được sử dụng xe, như nhờ bên đăng kiểm làm một chốt chặn, xe chưa nộp phạt chưa được đăng kiểm hay mở rộng ra, xe chưa nộp phạt chưa được nộp phí sử dụng đường bộ. Để xử lý nghiêm những ai chây lười có thể áp dụng mức phạt cao cho những khoản phạt nộp trễ hạn, mục đích làm sao cho người chủ xe phải nhanh chóng đi nộp phạt hơn là nghĩ đến con đường trừ thẳng từ tài khoản ngân hàng.

Thu thuế hay thu tiền nộp phạt là mối quan hệ giữa cơ quan nhà nước và tổ chức hay cá nhân. Tài khoản ngân hàng là mối quan hệ giữa tổ chức hay cá nhân với ngân hàng thương mại. Hai mối quan hệ này tách biệt nhau, không thể nối chúng lại với nhau bằng mệnh lệnh hành chính.



Monday, August 27, 2018

Điều kiện kinh doanh – cần một cách tiếp cận khác


Điều kiện kinh doanh – cần một cách tiếp cận khác

Nguyễn Vạn Phú

Nếu chỉ đọc các bài báo liên quan đến chủ đề “điều kiện kinh doanh”, một người bình thường cũng cảm được sự nóng lòng của cả xã hội lẫn Chính phủ mong muốn làm sao việc cắt bỏ điều kiện kinh doanh được triệt để hơn, nhanh chóng hơn. Thế nhưng Chính phủ chính là nơi đẻ ra điều kiện kinh doanh, tại sao không khiển được các bộ ngành bên dưới đừng trình thêm điều kiện kinh doanh nữa?

Xã hội vẫn cần điều kiện kinh doanh

Nhìn những chiếc ô tô có dán biển “tập lái”, người đi đường dù sao cũng yên tâm vì họ biết bên ghế ngồi của thầy dạy có hệ thống phanh phụ, trò có chạy ẩu thì thầy vẫn điều kiển dừng được xe. Đó là do kinh doanh dịch vụ đào tạo lái xe ô tô phải đáp ứng nhiều điều kiện trong đó có chuyện chiếc phanh phụ. Có ai dại dột đề nghị bỏ điều kiện kinh doanh này không? Chắc chắn là không.

Điều kiện kinh doanh được sinh ra trước hết là nhằm ràng buộc trách nhiệm của doanh nghiệp khi bán hàng hay cung ứng dịch vụ cho xã hội. Các điều kiện kinh doanh thuộc dạng nhằm để bảo vệ sự an toàn, sức khỏe của người tiêu dùng là hoàn toàn cần thiết, không thể nào bỏ đi. Một số ngành nghề như y tế, giáo dục, còn có tình trạng mất đối xứng trong tiếp cận thông tin nên Nhà nước phải đặt ra một số điều kiện kinh doanh nhằm giảm bớt sự bất đối xứng này.

Chẳng hạn, trường đại học A có liên kết với một đối tác nước ngoài để đào tạo thạc sĩ quản trị kinh doanh. Theo quy định đối tác nước ngoài phải thỏa mãn khá nhiều điều kiện kinh doanh như giấy chứng nhận kiểm định chất lượng giáo dục của chương trình đem vào Việt Nam, giấy tờ chứng minh tư cách pháp lý của các bên liên kết… Nếu không có những điều kiện này, làm sao người học yên tâm đây không phải là chương trình liên kết “ma” như đã từng xảy ra.

Làm sao bỏ được những điều kiện như người sản xuất thực phẩm phải khám sức khỏe định kỳ; bác sĩ phải được cấp chứng chỉ hành nghề khám, chữa bệnh; lái xe chở khách đường dài chỉ được chạy liên tục tối đa 4 tiếng; nhân viên kinh doanh xăng dầu phải được huấn luyện về nghiệp vụ phòng cháy, chữa cháy…

Ngay cả những phê phán điều kiện kinh doanh “vô lý”, “không cần thiết” như xe taxi phải có đồng hồ tính tiền cước theo cây số lăn bánh hay thời gian chờ… thật ra vẫn hợp lý. Nếu cứ để như một ý kiến gợi ý là cách tính cước như thế nào do doanh nghiệp tự quyết định, vậy xử lý như thế nào nếu taxi dù, không có đồng hồ tính cước trên trời với du khách nước ngoài lần đầu đến Việt Nam? Căn cứ nào để xử lý tình huống mà ai cũng đồng ý là làm xấu đi môi trường du lịch của nước ta?

Chỉ sợ điều kiện kinh doanh biến tướng thành vũ khí

Một trong những đặc điểm của môi trường kinh doanh ở Việt Nam là luật lệ thì nhiều nhưng thực thi chẳng bao nhiêu. Điều kiện kinh doanh chằng chịt nhưng dựa vào điều kiện kinh doanh để hậu kiểm, chấn chỉnh các sai phạm trong kinh doanh hầu như không thấy. Ngược lại, dùng điều kiện kinh doanh để gây khó dễ cho doanh nghiệp thì ngày nào đọc báo cũng thấy có chủ doanh nghiệp than vãn.

Một trong những điều kiện kinh doanh karaoke là “Phòng karaoke phải có diện tích sử dụng từ 20m2 trở lên” nhưng trong thực tế vẫn thấy rất nhiều nơi có phòng karaoke loại nhỏ, dành cho hai người, đâu ai bắt bẻ. Thế nhưng khi cần, điều kiện kinh doanh này sẽ được nêu ra để phạt vạ “dưới gầm bàn” hay thậm chí để bắt chấp nhận bảo kê. Hay về kinh doanh rượu thì hiện đã cấm bán rượu có nồng độ cồn từ 15 độ trở lên qua mạng Internet nhưng cứ vào Internet chúng ta thấy nhan nhản lời rao bán rượu mạnh khắp nơi. Kinh doanh vận tải ô tô bắt buộc phải lắp thiết bị giám sát hành trình cho xe chở khách, phải hoạt động liên tục, có kết nối và gởi dữ liệu về máy chủ của Tổng cục Đường bộ. Điều này có nghĩa tài xế nào lái xe liên tục quá 4 tiếng sẽ bị phát hiện ngay nhưng đã có trường hợp nào bị phạt vì điều này?

Trong nhiều trường hợp điều kiện kinh doanh trở thành vũ khí cạnh tranh theo nghĩa giới quản lý sẽ dễ dãi với doanh nghiệp thân hữu, doanh nghiệp sân sau và sẽ nghiêm khắc với doanh nghiệp đối thủ hay doanh nghiệp không biết điều theo kiểu “hành cho ra nước”.

Điều kiện kinh doanh không cần thiết nhưng có lợi cho công tác quản lý nhà nước cũng là một quán tính mà các nơi muốn duy trì. Nhiều nơi chần chừ do quyền lợi ràng buộc, do áp lực từ cấp dưới và do từ xưa đến nay đã quen với tư duy Nhà nước phải bao quát lo hết mọi nhẽ cho doanh nghiệp. Chính vì thế cuộc chiến đấu một bên là yêu cầu cắt bỏ điều kiện kinh doanh, một bên trì hoãn, không muốn cắt vẫn sẽ diễn ra. Thông tin mới nhất từ cuộc họp thường kỳ của Chính phủ cho thấy mới có bốn  bộ cắt giảm được 900 trong tổng số hơn 5.900 điều kiện kinh doanh.

Nên tiếp cận như thế nào?

Lâu nay cách làm là dư luận báo chí cùng các hiệp hội doanh nghiệp tìm cách để bỏ càng nhiều điều kiện kinh doanh càng tốt. Lãnh đạo Chính phủ cũng đặt ra những yêu cầu mang tính định lượng như bộ này phải cắt bỏ bao nhiêu, bộ kia phải cắt bỏ bao nhiêu điều kiện kinh doanh. Nhưng như đã nói ở trên, có nhiều điều kiện kinh doanh không thể bỏ được. Các bộ, ngành vì để thuận lợi cho việc quản lý hay để duy trì quyền lực đối với doanh nghiệp, rất muốn duy trì điều kiện kinh doanh; nếu buộc phải sửa thì sẽ sửa câu chữ, còn ràng buộc vẫn y nguyên. Ví dụ, các trường quốc tế trước đây không được nhận học sinh Việt Nam quá 10% đến 20% tổng số; nay sửa lại nâng lên không quá 50% thì đây vẫn là điều kiện kinh doanh gây vướng mắc. Buộc các nơi cắt giảm điều kiện kinh doanh theo số lượng sẽ dẫn đến dồn hai ba điều kiện vào thành một nhưng nội dung yêu cầu doanh nghiệp tuân thủ thì không thay đổi.

Cách tiếp cận khác là buộc nơi đề ra điều kiện kinh doanh giải trình rõ điều kiện kinh doanh đó nhằm mục đích gì, bảo vệ người tiêu dùng như thế nào, bảo đảm an toàn xã hội ra sao. Nếu không giải trình được, Chính phủ sẽ không phê duyệt cho điều kiện kinh doanh đó xuất hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật. Đi kèm với lý giải về sự cần thiết của điều kiện kinh doanh, các bộ, ngành cần đơn giản hóa quá trình tuân thủ điều kiện kinh doanh cần thiết bằng những thủ tục minh bạch, rõ ràng.

Ví dụ, Nghị định 25/2018 được ban hành nhằm bổ sung, sửa đổi một số điều của Nghị định 60/2014 về hoạt động in nhưng vẫn giữ nguyên không sửa những điều kiện kinh doanh không cần thiết như đòi hỏi chủ cơ sở in có trình độ cao đẳng trở lên về chuyên ngành in… Xét theo tiêu chí điều kiện kinh doanh có bảo vệ người tiêu dùng không, có đáp ứng yêu cầu an ninh xã hội không thì rõ ràng yêu cầu về bằng cấp của chủ cơ sở in không mang ý nghĩa gì cả. Chủ cơ sở in vẫn có thể là người học quản trị kinh doanh rồi thuê thợ in có tay nghề, có chuyên môn để vận hành máy móc, chứ chủ cơ sở in đâu nhất thiết phải có trình độ từ cao đẳng trở lên? Để làm gì?

Hay một nghị định khác, Nghị định 49/2018 mới được ban hành về kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp, có nêu những điều kiện thật khó lý giải sự cần thiết như “có đủ phòng làm việc cho kiểm định viên với diện tích tối thiểu là 8 m2/người”, “có ít nhất 10 kiểm định viên”, “có trang thông tin điện tử của tổ chức kiểm định”… Hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp chủ yếu diễn ra ở cơ sở giáo dục nghề nghiệp, tại sao phải yêu cầu tổ chức đi kiểm định phải đáp ứng diện tích tối thiểu cho kiểm định viên ngồi làm gì và nếu tổ chức này chỉ mới có 9 kiểm định viên là không đạt, vì sao? Lẽ ra Chính phủ trước khi ký ban hành các nghị định nói trên, yêu cầu nơi soạn thảo giải trình lý do đưa ra các điều kiện kinh doanh này thì đã không để lọt những điều kiện kinh doanh không cần thiết như thế.

Quán tính soạn thảo văn bản theo các khuôn mẫu có sẵn, cứ thêm điều kiện vào để có vẻ nghiêm khắc, chặt chẽ, bao quát là hiện tượng có thật. Chỉ cần bắt người soạn viết thêm giải thích vì sao soạn như thế cũng sẽ giúp giảm nhiều điều kiện kinh doanh bất hợp lý trong khi vẫn duy trì các điều kiện kinh doanh không thể thiếu vì sự an toàn của người tiêu dùng và xã hội.


Thursday, August 23, 2018

Tôi là ai – ai là tôi?


Tôi là ai – ai là tôi?

Nguyễn Vạn Phú

Nếu đã xem phim hình sự, có lẽ ai cũng từng thấy cảnh sát cho nạn nhân xem một tập dày hình ảnh của các tay tội phạm từng lãnh án để nhận diện thủ phạm, một quy trình kéo dài vài tiếng đến vài ngày mà chưa chắc đã có kết quả. Nay công nghệ nhận diện gương mặt đã được tự động hóa, có khả năng tìm ra một gương mặt giống đến 99% trong cơ sở dữ liệu vài triệu tấm hình nhưng chính giới công nghệ đang ân hận, không muốn chuyển giao kỹ thuật này cho bên cảnh sát. Vì sao?

Không phải là cảnh trong phim viễn tưởng

Đường phố đông nghẹt người. Cảnh sát đang mở chiến dịch truy tìm một tội phạm vừa gây ra vụ thảm sát hàng loạt. Đã có hình thủ phạm. Trung tâm giám sát công dân quét hình vào hệ thống. Ngay lập tức hàng trăm ngàn camera đang hoạt động khắp nơi nhận lệnh phải phát hiện tay thủ ác càng sớm càng tốt. Camera ở một đường phố chớp lóe cảnh báo – tìm ra rồi, 95% chính xác. Các trinh sát hình sự ập đến, còng tay tên tội phạm trong nháy mắt.

Đoạn miêu tả ở trên nghe như kể lại một đoạn phim khoa học giả tưởng nhưng công nghệ nhận diện đúng gương mặt người cần tìm kiếm trong đám đông là đã có thật và đang được sử dụng. Chỉ có điều, khác với phim, bắt đúng ngay người cần bắt, trong thực tế khi trinh sát dẫn kẻ tình nghi về đồn, hóa ra họ bắt nhầm một thầy giáo dạy nhạc vô hại.

Đó là kịch bản để nhiều người phản đối việc sử dụng phần mềm nhận diện trong hoạt động của cảnh sát với lý do công nghệ này vẫn còn non trẻ, vẫn còn sai sót và dễ dẫn tới bắt nhầm gây oan sai. Thật ra lập luận này khó đứng vững vì người khác có thể bẻ lại: giả thử bên điều tra chỉ dùng công nghệ nhận diện như một ứng dụng hỗ trợ, sau khi xác định được kẻ tình nghi, họ sẽ còn phải tiến hành các bước xác minh khác như cách làm lâu nay thì đâu có vấn đề gì. Nói cách khác, ngày xưa nhận diện bằng con người mất thời gian rất lâu, nay máy giúp nhận diện trong chớp mắt – đó là tiến bộ, sao lại phản đối?

Tuy nhiên cứ tưởng tượng cảnh sẽ có hàng triệu camera có khả năng nhận ra bạn là ai, đi theo bạn suốt ngày suốt đêm, cả khi vào xem phim hay ngồi nhậu với bạn bè, có lẽ ai nấy đều cảm thấy lạnh xương sống. Vì sao có cảm giác đó, xin nói thêm ở phần sau.

Ở đây phải tỉnh táo mà dự đoán, công nghệ nhận diện gương mặt người rồi sẽ thâm nhập mọi ngóc ngách cuộc sống, dù chúng ta có muốn hay không. Hiện nay hệ thống camera an ninh và giám sát đã đầy khắp, việc kết nối chúng với một trung tâm có khả năng sử dụng kỹ thuật “máy học” kết hợp với trí tuệ thông minh nhân tạo để tạo ra một hệ thống có thể biết một con người cụ thể nào đó đang ở đâu, làm gì, nói chuyện với ai là điều sớm muộn gì cũng xảy ra.

Về danh nghĩa, một hệ thống như thế sẽ giúp truy tìm tội phạm, tìm người thất lạc, phát hiện bọn khủng bố một cách nhanh chóng. Một hệ thống nhỏ hơn, khép kín có thể giúp kiểm soát vé tại một trận cầu, biết ai là khách mời ở một sự kiện mà khỏi cần xét vé… Trong thực tế, công nghệ nhận diện đã khá phổ biến như gợi ý gắn tên với khuôn mặt trên Facebook, mở khóa iPhone X, tự động chỉnh độ nét khi chụp ảnh bằng điện thoại thông minh.    

Đâu là giới hạn?

Vậy với công nghệ nhận diện, đâu là giới hạn công nghệ phải dừng chân để bảo vệ quyền riêng tư của con người. Như đã nói ở trên, phản ứng đầu tiên của nhiều người là sợ phần mềm có sai sót, gì thì gì, cứ nghĩ một hôm mình bị tóm cổ trên đường phố chỉ vì phần mềm báo động giả mình có tên trong danh sách cảnh sát đang truy nã toàn quốc, ai mà không phản đối. Phản đối nhiều nhất là nỗi sợ máy móc bị lạm dụng để tô đậm thiên kiến đối với dân da màu, người nhập cư hay người từng bị cảnh sát vào sổ đen.

Cảnh sát ở Cardiff, Wales lần đầu tiên dùng phần mềm nhận diện tại một trận bóng vào tháng 6/2017 đã phát hiện máy nhận diện sai hàng ngàn gương mặt, tỷ lệ nhận diện sai lên đến 92%. Còn hệ thống nhận diện của FBI, đưa vào sử dụng đã lâu, đã hoàn thiện, vẫn cho kết quả sai đến 14%.  

Amazon có một phần mềm nhận diện khuôn mặt, đặt tên là Rekognition hiện được một số cơ quan cảnh sát ở Mỹ sử dụng. Một hôm, tổ chức Liên đoàn Tự do Dân sự Mỹ (ACLU) lấy phần mềm này ra thử nghiệm, so sánh hình ảnh của các Hạ nghị sĩ lẫn Thượng nghị sĩ Mỹ với cơ sở dữ liệu chứa 25.000 ảnh chân dung các tên tội phạm. Kết quả 28 vị dân biểu Quốc hội Mỹ bị nhận diện sai thành tội phạm! Năm vị này tức quá, bèn viết một lá thư cho ông chủ Amazon là tỷ phú Jeff Bezos yêu cầu gặp ngay để hỏi cho ra lẽ vì sao phần mềm nhận diện lung tung thế.

Như thế, kết luận đầu tiên có thể rút ra ngay là công nghệ nhận diện, dù đang tiến rất nhanh, vẫn còn chưa hoàn chỉnh ở mức có thể tin cậy đưa vào sử dụng đại trà. Mọi lời chào của các hãng công nghệ, dù lời lẽ hoa mỹ đến đâu vẫn phải được tiếp nhận với sự hoàn nghi cao độ.

Nhưng giả thử công nghệ sẽ tiến nhanh, trí tuệ thông minh nhân tạo tự học, sẽ hoàn thiện khả năng để sai sót tiến về chỗ không đáng kể. Lúc đó có nên trao số phận của chúng ta cho máy móc chưa?

Ứng dụng công nghệ nhận diện vào cuộc sống nhiều nhất chính là Trung Quốc, nơi người ta kết hợp công nghệ theo dõi với hệ thống chấm điểm công dân để có thể dùng cách bêu tên kẻ bộ hành băng qua đường sai luật hay hút thuốc ở nơi cấm hút thuốc. Thay vì bị phạt, người đi bộ sai luật sẽ bị bêu tên và hình ảnh kèm số chứng minh đã bị làm mờ lên màn hình ngay cạnh nơi xảy ra vi phạm.  

Ở Việt Nam, câu chuyện thời sự là hình ảnh nhạy cảm của một cặp đôi vào rạp xem phim nhưng lại “thân mật” thái quá bị tung lên mạng. Báo chí tường thuật những hình ảnh này chụp lại từ hệ thống camera giám sát của cụm rạp với nhiều tư thế và rất rõ mặt. Bên cạnh việc lên án cặp đôi này, nhiều người mới giật mình, té ra vào rạp xem phim cũng bị quây camera và hình ảnh của bạn có thể bị phát tán lên mạng lúc nào không hay.

Kết luận thứ nhì ở đây là hình phạt phải tương xứng với vi phạm; hút thuốc nơi bị cấm có thể chịu phạt một khoản tiền lớn hay thậm chí nhiều ngày lao động công ích nhưng không thể bêu tên và hình ảnh người hút lên chốn công cộng. Âu yếm trong rạp chiếu phim có thể bị lên án là bất lịch sự, làm quá thì bị kết tội “công xúc tu sĩ” nhưng không thể bêu xấu họ lên mạng xã hội được, hình ảnh của họ không được bị rò rỉ phát tán lên không gian công cộng được.

Có lẽ cho dù sau này trí tuệ nhân tạo thông minh xuất sắc nhận diện ai là trúng phóc, con người cũng không thể giao phó cho máy móc làm công việc phán xử con người. Hãy cứ hình dung một kịch bản, phần mềm nhận diện thế hệ mới nhận diện bạn vừa mới vượt đèn đỏ ở một ngã tư, gởi hình ảnh vi phạm này về trung tâm. Phần mềm xử lý trung tâm dùng thuật toán có sẵn ra lệnh cho các camera ở đường phố kế tiếp theo dõi bạn, đến một đoạn đường có xây rào chắn đóng mở tự động, máy ra lệnh các cọc bê tông nổi lên để chặn xe bạn lại. Tai nạn xảy ra vì hai người bạn ngồi băng sau không thắt dây an toàn nên bị hất văng ra xa. Kịch bản là giả định nhưng nỗi lo là có thật.

Loại phim khoa học viễn tưởng trong đó cảnh sát người máy tuần tra, kiểm soát và xử phạt đám đông có khá nhiều, lúc nào cái kết cũng là sự nổi dậy của con người chống lại, đôi lúc có sự hỗ trợ của một người máy “phản tỉnh” có tính người. Một chủ đề khác cũng khá phổ biến trong thể loại phim viễn tưởng là người máy thống trị nhân loại, chúng ta thường coi để giải trí, ít ai nghĩ máy móc có đủ trí khôn để cai trị con người. Có lẽ sự thống trị mà phim ảnh nhắc đến chỉ là một ẩn dụ - khi chúng ta phụ thuộc vào máy móc như kiểu phần mềm nhận diện – tức chúng ta đã nhường quyền kiểm soát, nhường sự phán xét cho máy móc và chịu phận nô lệ từ đây.




Sunday, August 19, 2018

Giáo dục có vốn nước ngoài


Thở phào… nhưng chưa nhẹ nhõm

Nguyễn Vạn Phú

Giáo dục là một trong những lãnh vực nhận nhiều lời ta thán mỗi khi có hội nghị góp ý cho đầu tư nước ngoài. Một quy định mới vừa ra đời, có hiệu lực từ ngày 1-8-2018, giải quyết được bao nhiêu phần trăm những than phiền này?

Nhà đầu tư thường than gì?

Nhưng có lẽ trước hết cần điểm lại những vấn đề gây khó khăn cho nhà đầu tư nước ngoài trong lãnh vực giáo dục, trước đây được điều chỉnh bởi Nghị định 73/2012. Một trong những điểm được nhắc nhiều nhất là quy định cơ sở giáo dục có vốn đầu tư nước ngoài được phép tuyển học sinh Việt Nam nhưng số học sinh Việt Nam ở trường tiểu học và trung học cơ sở không quá 10% tổng số học sinh của trường, ở trường trung học phổ thông không quá 20% tổng số học sinh của trường. Học sinh Việt Nam dưới 5 tuổi không được tiếp nhận vào học chương trình của nước ngoài.

Quy định này còn có thể hợp lý ở thời kỳ các trường quốc tế mở ra chủ yếu cho con em nhà đầu tư hay nhà ngoại giao nước ngoài. Sau này có những nhà đầu tư FDI muốn mở các trường quốc tế nhắm đến học sinh Việt Nam nhưng xem như bó tay vì hạn mức này. Ở các trường quốc tế nổi tiếng thường học sinh người Việt phải xếp hàng đợi hạn ngạch; đến nỗi có trường bày phụ huynh cho con em tạm lấy quốc tịch Campuchia để vào học cho nhanh!

Thế nhưng với nhà đầu tư, điều gây bức xúc cho họ nhất là thủ tục nhiêu khê khi thành lập một cơ sở giáo dục, bất kể đó chỉ là chi nhánh một trung tâm ngoại ngữ hay một trường đại học bề thế. Nhà đầu tư phải xin cho được ba loại giấy phép (giấy phép đầu tư, giấy phép thành lập, giấy phép hoạt động), với những hồ sơ và thủ tục trùng lắp nhau. Mỗi loại giấy phép phải đi qua nhiều cửa thẩm định, mất rất nhiều thời gian. Chính vì vậy, đọc tin tức thời sự, có lúc chúng ta nghe trường đại học Fulbright được cấp giấy phép đầu tư, một thời gian sau lại nghe Fulbright được trao giấy phép thành lập và thêm một thời gian nữa trường này mới có giấy phép hoạt động.

Ở đây vấn đề con gà có trước hay quả trứng có trước cũng là nỗi đau đầu của nhà đầu tư: họ phải đáp ứng nhiều điều kiện mới được cấp phép nhưng chưa có giấy phép mà tuyển giáo viên, thuê hay xây cơ sở dạy học về để đó rất lãng phí, tốn kém. Tuyển giảng viên có ít nhất 5 năm kinh nghiệm đã khó, phải trả lương đầy đủ cho họ khi chưa có giấy phép hoạt động, tức chưa có doanh thu càng khó hơn.

Nghị định 73 cũ cũng có những yêu cầu cao về vốn đầu tư, về chương trình giảng dạy và đội ngũ giáo viên. Các yêu cầu này cũng nhằm bảo vệ quyền lợi của người học nhưng đôi lúc không mang tính thực tế. Điều 31 quy định: “Giáo viên, giảng viên là người nước ngoài giảng dạy tại các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn, cơ sở giáo dục mầm non, cơ sở giáo dục phổ thông, cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở giáo dục đại học có vốn đầu tư nước ngoài ít nhất phải có 5 năm kinh nghiệm trong cùng lĩnh vực giảng dạy”. Với giảng viên đại học, yêu cầu có 5 năm kinh nghiệm nghe còn tương đối chấp nhận được nhưng với một trung tâm ngoại ngữ, nhiều lúc phải tuyển người bản ngữ làm thêm để kiếm thêm thu nhập thì lấy đâu ra từng ấy năm kinh nghiệm.

Thật ra yêu cầu này đã được sửa đổi vào cuối năm 2014 (bằng Nghị định 124), bỏ điều kiện phải có ít nhất 5 năm kinh nghiệm đối với giáo viên là người nước ngoài giảng dạy tại các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn, trường mầm non, trường phổ thông.

Giải quyết đến đâu?

Nghị định 86/2018, có hiệu lực từ đầu tháng này, được kỳ vọng giải quyết hết mọi nỗi băn khoăn của nhà đầu tư, nhất là sau các góp ý của nhiều tổ chức và lời hứa hẹn của các quan chức giáo dục. Thế nhưng có thể thấy cách giải quyết là chưa triệt để, chẳng hạn, quy định hạn chế số lượng học sinh Việt Nam tại các trường có vốn đầu tư nước ngoài (từ mầm non đến trung học phổ thông) được nâng lên, từ 10% hay 20% lên thành không quá 50% chứ không phải gỡ bỏ hoàn toàn.

Hay thủ tục thành lập các cơ sở giáo dục có vốn đầu tư nước ngoài được đơn giản hóa nhưng chỉ cho cơ sở đào tạo bồi dưỡng ngắn hạn (chỉ còn hai bước: cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và cấp phép hoạt động giáo dục). Các trường khác, từ mầm non đến đại học vẫn phải áp dụng quy trình ba bước: xin cấp giấy chứng nhận đầu tư, xin cấp quyết định thành lập và xin cấp phép hoạt động giáo dục.

Thật ra khi xin thành lập một trường đại học, đầu tiên Thủ tướng Chính phủ ra quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư trên cơ sở tờ trình của các Bộ Kế hoạch-Đầu tư, Giáo dục-Đào tạo và các cơ quan liên quan. Bước này là quan trọng nhất vì phải đi qua các cửa quan trọng; không biết vì sao sau đó phải làm lại các thủ tục tương tự để thực hiện quy trình ba bước nói trên.

Cũng như quy định cũ, Nghị định 86 cũng yêu cầu các cơ sở giáo dục từ mầm non đến phổ thông có nhận học sinh Việt Nam phải dạy những nội dung bắt buộc (từ các môn Lịch sử, Địa lý, tiếng Việt). Tuy nhiên, cái mới là nghị định sử dụng cụm từ “nội dung bắt buộc” thay vì “môn học bắt buộc” giúp các trường có thể linh hoạt lồng ghép nội dung các môn thay vì có giờ dạy riêng các môn bằng tiếng Việt.

Có một số nội dung Nghị định 86 nâng cao yêu cầu so với trước. Chẳng hạn trước đây quy định tỉ lệ tiến sĩ trên giảng viên của các trường đại học có vốn nước ngoài chỉ là 35% thì nay tăng lên 50%. Vốn của các trường đại học trước đây chỉ cần 300 tỷ đồng thì nay được nâng lên thành 1.000 tỷ đồng (không bao gồm chi phí sử dụng đất) cho tương xứng với yêu cầu về vốn đối với các trường đại học trong nước. 

Nặng nhất là quy định “Đến thời điểm thẩm định cho phép thành lập trường đại học, giá trị đầu tư phải thực hiện được trên 500 tỷ đồng”. Trong khi diện tích đất tối thiểu của các trường đại học tư trong nước phải đạt 5 hecta thì trường đại học có vốn đầu tư nước ngoài không chịu ràng buộc này, chỉ trừ quy định: “Diện tích đất để xây dựng trường đạt bình quân ít nhất 25 m2/sinh viên tại thời điểm có quy mô đào tạo cao nhất”.

Tuy nhiên, theo chúng tôi, một vấn đề quan trọng mà cả Nghị định 73 cũ và Nghị định 86 mới chưa chú ý là nội hàm của cơ sở giáo dục có vốn đầu tư nước ngoài. Nghị định 73 không đề cập còn Nghị định 86 định nghĩa “Cơ sở giáo dục có vốn đầu tư nước ngoài là cơ sở giáo dục do tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài bỏ vốn đầu tư”. 

Định nghĩa như thế là còn bỏ sót các cơ sở giáo dục, mặc dù vốn là của người trong nước, nhưng sau đó lại thuê các tổ chức nước ngoài điều hành, giảng dạy y như một trường có vốn đầu tư nước ngoài. Bởi các trường như thế đang giảng dạy theo chương trình nước ngoài, sử dụng tiếng Anh hay một ngoại ngữ khác làm ngôn ngữ giảng dạy và có thể cấp bằng nước ngoài. 

Loại hình trường “quốc tế” như thế hiện có nhiều và gây hiểu nhầm ở phụ huynh học sinh. Cần xác định những trường như thế có bị chi phối bởi những ràng buộc về chương trình đào tạo, đội ngũ giáo viên như trường có vốn đầu tư nước ngoài hay không.



Thursday, August 9, 2018

Ảo tưởng blockchain

Blockchain chỉ là ảo tưởng

(Bài này đăng trên tờ Tuổi Trẻ Cuối Tuần. Tuổi Trẻ Online bị đình bản 3 tháng; TTCT không có chỗ để đưa lên. Vậy nên bài được đưa lên blog sớm hơn thường lệ, thay vì chờ vài ba tuần ưu tiên cho bên báo).

Nguyễn Vạn Phú

Xã hội truyền thống xây dựng dựa trên niềm tin vào con người và các định chế do con người dựng nên – blockchain được phát triển dựa trên giả định không thể tin ai. Thử nghĩ xem xu hướng nào sẽ thắng thế và nên cổ vũ cho xu hướng nào?

Các bài viết về blockchain thường dành ra cỡ một phần ba để giải thích blockchain là gì. Người đọc ít khi vượt qua một phần ba này nên cái đọng lại trong nhiều người là blockchain lắm phức tạp nhưng cũng lắm tiềm năng. Nói theo cách đơn giản hóa nhất, blockchain là một cơ sở dữ liệu an toàn bậc nhất vì không ai có thể can thiệp sửa chữa thông tin bên trong.

Vì là cơ sở dữ liệu nên blockchain có thể áp dụng trong nhiều trường hợp như ghi nhận mọi biến động trong thị trường địa ốc một nước mà không cần nhờ tới một bên thứ ba như công chứng viên hay cơ quan địa chính nhà nước chứng thực. Nói cách khác những giao dịch giữa hai bên mà trước đây cần một bên trung gian xác nhận đều có thể tiến hành bằng công nghệ blockchain và loại bỏ bên trung gian. Đó có thể là mua bán chứng khoán, chi trả trong thương mại quốc tế, đăng ký sở hữu tài sản như nhà cửa, xe cộ… Nói đến đây, ắt ai nấy đều thèm thuồng cái sức mạnh vượt trội của blockchain, tưởng đâu một sớm một chiều nó sẽ thay đổi cách tổ chức xã hội của cả nhân loại.

Lòng tin con người là yếu tố quyết định

Thế nhưng bất kể biết bao hội thảo, biết bao bài thuyết trình, biết bao bài viết ca ngợi ưu thế blockchain, thử hỏi đã có ai thấy một ứng dụng phổ biến trong đời sống thực dùng nền tảng blockchain, ngoài các đồng tiền mã hóa?

Trong ngành hàng không dân dụng, cơ chế máy bay tự lái đã hoàn chỉnh đến độ các máy bay đời mới đã có thể tự cất cánh, hạ cánh. Nhưng cứ thử hỏi liệu khách đi máy bay có chịu lên một chiếc máy bay không có phi công, có lẽ không ai dám liều cả. Blockchain cũng vậy, cho dù nó tạo một cơ chế ghi nhận quyền sở hữu nhà đất hoàn chỉnh, không ai có thể giả mạo, chỉnh sửa giấy tờ, liệu đã có dân chúng nước nào giao phó hồ sơ nhà đất của họ cho blockchain? Đây là yếu tố chưa thấy bài viết nào về blockchain đề cập và giải quyết.

Một trong những ứng dụng tiềm năng được ca ngợi nhất của blockchain là “hợp đồng thông minh”, tức hợp đồng kỹ thuật số có nhúng những đoạn mã “nếu… thì….” để sau đó hợp đồng có thể tự động thực thi khi các điều kiện đặt ra được đáp ứng. Trước đây hợp đồng truyền thống dựa vào lòng tin của con người, cộng với áp lực thực thi của xã hội, của luật pháp – tức dựa trên cả hàng ngàn năm điều chỉnh, gây dựng lòng tin vào con người, lòng tin vào công lý. Nay chuyển nó sang cho các đoạn mã làm nền tảng thực thi thì liệu có quá lạc quan khi cho rằng con người sẽ chấp nhận “hợp đồng thông minh” hơn là hợp đồng được cả một hệ thống luật dân sự bảo chứng? Liệu một công nghệ dựa trên giả định không thể tin ai có thể thay thế các định chế dựa trên lòng tin vào con người?

Để dễ hình dung, hãy nhìn vào một ứng dụng cụ thể: blockchain trong phát hành nhạc. Phát hành nhạc hiện đang trải qua những thay đổi tận gốc rễ - thay vì bán đĩa ghi âm, ca sĩ có thể đưa bài hát của mình lên một nơi phát hành trực tuyến như Apple Music hay Spotify nhưng cũ cũng như mới, ca sĩ đều phải dựa vào bên trung gian để đưa sản phẩm đến người nghe và chịu mất hoa hồng. Blockchain được kỳ vọng thay đổi điều đó bằng cách tạo ra một cơ sở dữ liệu chính xác ai sở hữu gì; cộng với một dạng hợp đồng thông minh, kiểu nếu A chi trả 5 đồng thì được nghe bài B ba lần – người ta cứ nghĩ sau này thính giả cứ trả tiền trực tiếp cho ca sĩ, khỏi qua trung gian nữa. Vấn đề là lúc nào cũng có một lượng thính giả đông đảo muốn nghe nhạc mà không mất tiền, họ sẽ ngó lơ hẳn blockchain như hiện nay họ đâu thèm dùng Spotify hay Apple Music.

Ý tưởng loại bỏ trung gian

Trở lại ứng dụng blockchain được triển khai duy nhất trong thực tế - đồng tiền mã hóa mà khét tiếng nhất là bitcoin, ưu điểm lớn nhất của nó là loại bỏ các trung gian như ngân hàng trung ương phát hành tiền, ngân hàng thương mại ghi nhận các giao dịch hay các tổ chức thanh toán như Visa hay MasterCard. Cái giá phải trả là sự biến động giá trị không ai chịu nổi, mỗi giao dịch phải mất một thời gian lâu mới được xác nhận (mỗi giây Visa xử lý 60.000 giao dịch còn bitcoin tối đa chỉ được bảy giao dịch), nguồn năng lượng khổng lồ cần có để tiến hành ghi nhận giao dịch… Trong khi đó chi phí cho các bên trung gian là không đáng kể và quan trọng hơn, bên trung gian cũng là những tế bào làm nên xã hội hiện đại, gạt bỏ chúng đi, cuối cùng chúng ta còn lại gì?

Thử nhìn lại các bên trung gian mà nền kinh tế số muốn loại bỏ: Airbnb muốn loại bỏ các khách sạn để người thuê nhà liên lạc trực tiếp với người có nhà cho thuê; Uber hay Grab loại bỏ các hãng taxi; các website thương mại điện tử loại bỏ cửa hàng tạp hóa; robot loại bỏ công nhân; các trang đặt chỗ như Booking.com loại bỏ đại lý… Cạnh tranh bằng cách đẩy một bên vào chỗ phải diệt vong chưa chắc đã là phương thức bền vững. Blockchain chính là ứng dụng kinh tế số hứa hẹn loại bỏ nhiều trung gian nhất, từ ngân hàng đến nhà môi giới, thậm chí cả cơ quan nhà nước và chính phủ.

Sai sót do con người

Chúng ta đã từng nghe các vụ hacker đột nhập đánh cắp bitcoin rồi đánh sập các sàn giao dịch bitcoin như thế nào. Kể cũng lạ, người ta từng khẳng định blockchain là không thể sửa đổi vậy hacker làm sao để đánh cắp nếu không ghi nhận sự chuyển dịch sở hữu đồng bitcoin đánh cắp sang cho mình? Blockchain do con người thiết kế, nhập dữ liệu đầu vào nên chắc chắn sai sót sẽ xảy ra.

Một trong những hợp đồng thông minh lớn nhất là một công cụ đầu tư viết tắt là DAO, cho phép thành viên đầu tư trực tiếp bằng cách dùng chìa khóa mã hóa riêng để bỏ phiếu nên đầu tư vào đâu. Như thế đây là quỹ đầu tư không cần ban điều hành, không cần luật sư, không cần họp hội đồng quản trị. Thế mà do một lỗi phần mềm DAO bỏ phiếu đầu tư 50 triệu đô-la, tức một phần ba tổng quỹ vào một dự án sau đó được phát hiện là do các nhà lập trình dựng lên như một dự án ma. Dù tranh cãi đây là do lỗi phần mềm hay do con người lợi dụng công nghệ để tư lợi, sau cùng mọi người phải ngồi lại bỏ phiếu bằng cách truyền thống để trả lại nguyên trạng, tiền ai về nhà nấy. Dân chuyên về blockchain cuối cùng phải dùng lý trí để thực thi hợp đồng chứ không dựa vào sự “thông minh” của máy móc nữa.

Sai sót tiềm ẩn lớn nhất là phóng đại những gì blockchain có thể làm được, hay gán cho blockchain những ưu điểm thật ra của nơi khác. Ví dụ người ta thường quảng bá, chi trả bảo hiểm y tế bằng blockchain là nhanh như chớp trong khi bình thường phải mất 90 ngày để hãng bảo hiểm xử lý một yêu cầu. Cái này là nhờ ứng dụng công nghệ vào quản lý chi trả bảo hiểm chứ không phải nhờ blockchain. Nếu có tranh chấp hay có gian lận bảo hiểm thì blockchain cũng đành chịu, không thể đẩy nhanh quy trình thanh toán. Tương tự hiện nay không hiếm các lời rao chào hàng blockchain cho mọi ngành, mọi lãnh vực, kể cả nông nghiệp như truy xuất nguồn gốc nông sản. Đây cũng chỉ là ứng dụng cơ sở dữ liệu kết nối với mã QR dán trên sản phẩm chứ có liên quan gì đến blockchain?

Cuộc sống có những chọn lựa riêng của nó. Có thời cả thế giới lao vào tranh cãi sẽ dùng định dạng gì, BluRay hay HD-DVD cuối cùng cả hai đều bị bỏ xó. Thiết nghĩ những ồn ào chung quanh blockchain cũng thế, cuối cùng thế giới sẽ chọn giải pháp riêng như kiểu chi trả qua điện thoại di động, chẳng cần gì đến blockchain hay bitcoin. Cũng có thể bỗng xuất hiện một ứng dụng cất cánh cho blockchain, tức một ứng dụng thành công bất ngờ, giúp phổ biến blockchain nhanh chóng. Chưa ai biết được tương lai nhưng nên có thái độ hoài nghi để khỏi bị lừa hay bị cuốn vào những lời chào hàng đắt đỏ.


Box

Giả định bạn muốn mua sách qua mạng. Giả định có một tác giả dùng công nghệ blockchain, soạn hợp đồng thông minh để bán sách. Như vậy khác với lối mua bán truyền thống, quẹt thẻ xong chờ họ gởi sách về nhà, nay bạn không tin ai và người bán sách không tin bạn nên hai bên cậy nhờ hợp đồng thông minh. Làm sao bạn đủ sức để rà soát cái hợp đồng thông minh này để xem có bị ông tác giả kia lừa hết tiền trong thẻ? Vậy là cuối cùng, dù sử dụng hợp đồng thông minh, bạn vẫn phải dựa vào những giả định: ông tác giả phải làm ăn đàng hoàng để giữ uy tín, bạn bè đã mua sách như thế và trôi chảy, ông tác giả là người bạn đã nghe danh và sách giá không bao nhiêu, chắc không ai nỡ lừa nhau. Đó là quyết định dựa trên niềm tin chứ đâu phải dựa vào blockchain.


AI - hype and reality

  AI – cường điệu và thực tế Nguyễn Vạn Phú Bạn đôi lúc có cảm giác hơi hơi mặc cảm vì chung quanh đọc đâu cũng thấy bàn về AI (trí tuệ ...