Tuesday, July 3, 2018

Bản chất việc thanh toán bằng WeChat


Sẽ không còn quẹt thẻ 

Nguyễn Vạn Phú

Tuần trước các báo đưa tin du khách Trung Quốc cà thẻ qua máy POS bất hợp pháp, kết nối trực tiếp với ngân hàng bên Trung Quốc không thông qua hệ thống chi trả của Việt Nam, gây thất thu thuế. Thật ra hiện tượng này có quy mô lớn hơn nhiều, không nhất thiết là thẻ tín dụng, liên quan đến nhiều vấn đề và đã là nỗi lo của các nước láng giềng, các hệ thống tài chính truyền thống chứ không riêng gì Việt Nam.

Bước ngoặt bất ngờ

Với khách du lịch khi đến một nước nào đó, thông thường họ mua sắm, ăn uống, trả tiền dịch vụ bằng thẻ tín dụng. Quy trình đó diễn ra trong nháy mắt nhưng khá phức tạp. Ví dụ khi quẹt thẻ VISA ở một nhà hàng, máy POS sẽ chuyển thông tin thẻ và hóa đơn từ quầy thanh toán về ngân hàng thụ hưởng (tức ngân hàng của chủ tiệm ăn), nơi đây gởi thông tin đi tiếp đến hệ thống thẻ VISA, hệ thống này mới gởi tiếp thông tin về ngân hàng phát hành thẻ, nơi đây chấp thuận thì giao dịch mới được tiến hành. Nếu bữa ăn có giá 100 đồng thì nhà hàng sẽ nhận được 97,25 đồng; ngân hàng phát hành thẻ hưởng 2,20 đồng; VISA nhận 13 xu tiền thù lao; ngân hàng thụ hưởng nhận 19 xu và các nơi xử lý giao dịch nhận 23 xu.

Alipay của Alibaba và WeChat Pay của Tencent đã thay đổi hệ thống đó một cách triệt để.

Alipay và WeChat Pay hiện rất phổ biến ở Trung Quốc, cứ 10 giao dịch trực tuyến thì đến 9 giao dịch là thông qua hai hệ thống này. Hiện Alipay có 520 triệu và WeChat Pay có 1 tỷ người dùng thường xuyên, năm 2016 họ chi tiêu hơn 2,9 ngàn tỷ đô-la sử dụng cách chi trả độc đáo của Alipay và WeChat Pay.

Người dùng mở một ví tiền Alipay hay WeChat Pay, kết nối ví với tài khoản của họ ở ngân hàng và được cấp một mã QR riêng biệt. Bên bán hàng cũng vậy, có tài khoản ngân hàng và tài khoản di động, cũng có một mã QR riêng. Khi mua, ví dụ một ly trà đá, người dùng chỉ việc đưa máy điện thoại di động, bấm nút thanh toán, mã QR riêng biệt của họ sẽ xuất hiện trên màn hình cho bên bán quét, là xong. Giả thử bên bán chưa trang bị máy quét mã QR, họ chỉ cần lấy tờ giấy in mã QR của họ ra, dán lên quầy; bên mua mở camera của điện thoại, quét mã, bấm thanh toán, cũng xong. Hiện nay các tiệm Starbuck ở Trung Quốc đã trang bị máy tự quét mã QR cho khách nên dòng người trả tiền chạy mượt mà; ai trả bằng tiền mặt sẽ bị nhìn như người ngoài hành tinh.

Alipay và WeChat Pay có kênh thanh toán riêng, không dùng các mạng thanh toán như VISA hay MasterCard nữa. Nên khi giao dịch, tiền từ tài khoản ngân hàng của người mua chạy vào tài khoản di động cũng của người mua rồi từ đó được chuyển qua tài khoản di động của người bán và cuối cùng chạy về tài khoản ngân hàng của người bán.

Với thẻ tín dụng truyền thống, cho dù mua bán nội địa, bên bán cũng phải trang bị máy quẹt thẻ POS rồi phải chịu phí cao nên mức độ chấp nhận thanh toán bằng thẻ phải một thời gian dài mới tương đối phổ biến. Ngược lại Alipay và WeChat Pay quá đơn giản, không cần trang bị gì nhiều ngoài chiếc điện thoại mà giờ đây ai cũng có nên chỉ trong vòng 5 năm, đã trở thành nền tảng thanh toán chi phối ở Trung Quốc. Người dân nước này dùng điện thoại di động để mua đủ thứ, từ cây kem đến trả tiền đỗ xe, từ tiền học đến mua sắm hàng hóa đắt tiền. Ngay cả người bán hàng rong cũng chấp nhận trả bằng QR. Người dùng cùng mạng có thể chuyển tiền cho nhau dễ dàng, nhanh chóng mà lại không mất phí.

Dân Trung Quốc đã quen Alipay hay WeChat Pay đến nỗi đi du lịch đến các nước như Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan... họ chỉ vào tiêu xài ở các tiệm có ghi “chấp nhận thanh toán bằng Alipay hay WeChat Pay”. Và từ đó nảy sinh chuyện báo chí phản ánh tuần trước.

Các vấn đề nảy sinh

Như vậy nỗi lo đầu tiên là giả dụ người dân Trung Quốc đi du lịch đến Việt Nam nhưng chỉ vào toàn các cơ sở của chính dân Trung Quốc đầu tư như khách sạn, nhà hàng. Hai bên đều là khách của hai mạng Alipay hay WeChat Pay, có tài khoản ở ngân hàng Trung Quốc, đương nhiên họ mua sắm, thanh toán cho nhau trực tiếp bằng nền tảng của họ nên dòng tiền, mặc dù tiêu xài ở Việt Nam, nhưng lại chỉ chạy vòng quanh trên đất Trung Quốc.

Nhìn rộng ra, các cơ sở dịch vụ du lịch ở Việt Nam của người Việt Nam, rất nhạy bén, ắt phải tìm cách “chấp nhận thanh toán bằng Alipay hay WeChat Pay” để thu hút khách Trung Quốc. Khi hai mạng này chưa ký kết hợp tác với các ngân hàng Việt Nam, các cơ sở này ắt phải tìm cách mở tài khoản ở ngân hàng Trung Quốc để tiếp nhận tiền thanh toán và từ đó mới có chuyện chuyển ngân lậu.

Thế nhưng dự báo là tình hình tranh tối trang sáng này chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn, các ngân hàng Việt Nam trước sau gì cũng phải hợp tác với Alipay và WeChat Pay như các ngân hàng Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan và nhiều nước khác. Lúc đó tiền sẽ chạy qua hệ thống thanh toán của ngân hàng nhưng sẽ có một khác biệt đáng kể so với thanh toán qua thẻ tín dụng. Đó là ngân hàng sẽ thất thu mạnh và sẽ không có dữ liệu gì về giao dịch trong khi bên Alibaba và Tencent sẽ vừa thu được phí trung gian vừa nắm dữ liệu lớn phục vụ cho mục đích thương mại khác sau này.

Theo tạp chí Forbes, các ngân hàng Trung Quốc thất thu chừng 23 tỷ đô-la vì mất miếng bánh phí giao dịch về tay Alipay và WeChat Pay vào năm 2015 khi dân Trung Quốc dịch chuyển thanh toán bằng thẻ tín dụng qua thanh toán bằng điện thoại di động. Con số này dự báo tăng lên 61 tỷ đô-la (400 tỷ nhân dân tệ) và năm 2020. Vai trò của ngân hàng giờ đây chỉ còn là nơi giữ tiền cho khách, khi có yêu cầu thì chuyển đi. Thế nhưng các ngân hàng Trung Quốc không thể cưỡng lại nhu cầu của xã hội; đã có hơn 200 ngân hàng ký kết hợp tác với Alipay để khỏi bị loại khỏi cuộc chơi mặc dù miếng bánh của họ teo tóp lại. 

Tổng giám đốc một ngân hàng của Mỹ, sau khi tìm hiểu và chứng kiến sự phổ biến của hệ thống thanh toán di động của Trung Quốc đã phải tuyên bố: “Đừng chống lại nó. Đừng ngăn cản nó. Hãy chấp nhận và học nó”.

Chúng ta làm được gì đây

Về mặt chính sách, có lẽ các cơ quan quản lý nhà nước nên tìm hiểu thực tế để có những quyết sách phù hợp chứ không phải là những cảnh báo hay cấm đoán chung chung. Đầu tiên là đặt ra yêu cầu các cơ sở dịch vụ du lịch ở Việt Nam, dù của người Việt hay của dân Trung Quốc đầu tư đều phải kết nối ví Alipay hay WeChat Pay với một ngân hàng trong nước, không được kết nối ví trực tiếp với ngân hàng Trung Quốc.

Các ngân hàng phải cùng nhau ngồi lại để có tiếng nói chung khi yêu cầu một mức phí giao dịch đúng mức, không để bị ép cạnh tranh nhau rồi hạ giá xuống đáy. Đây cũng là cơ hội cho các ngân hàng thiết kế hệ thống thanh toán di động cho riêng mình vì trước sau người dùng cũng sẽ chuyển sang di động, không còn dùng thẻ nữa. Bởi với ngân hàng, thông tin khách hàng mới là quan trọng vì từ thông tin khách hàng, mới có thể triển khai các dịch vụ khác như quản lý tài chính cá nhân, cho vay tiêu dùng...

Thành công của Alibaba và Tencent khi khai sinh Alipay và WeChat Pay nằm ở chỗ họ đã cung cấp cho người dùng một hệ sinh thái khép kín gồm mạng xã hội, thương mại điện tử và thanh toán di động. Cả ba mảng này Việt Nam đang yếu và thiếu. Hệ thống thương mại điện tử Việt Nam chủ yếu dựa vào nhân công rẻ để giao hàng và thu tiền trực tiếp. Có tiềm năng phát triển nhất là thẻ cào điện thoại dùng như một phương tiện thanh toán nhưng các nhà mạng quá ham tỷ lệ hoa hồng cao nên không đi tới đâu. Giả thử Lazada, hiện đã về tay Alibaba, đẻ ra một loại thanh toán di động kiểu Alipay, họ sẽ dành hết người dùng và chế ngự thương trường trên mạng của Việt Nam.




Friday, April 27, 2018

Chữa lành các mối quan hệ


Chữa lành các mối quan hệ

Vấn đề cấp bách nhất của ngành giáo dục hiện nay là chữa lành các mối quan hệ giữa thầy – trò; giữa giáo viên – phụ huynh; giữa các cấp quản lý giáo dục – nhà giáo bởi các mối quan hệ này đang chịu nhiều tác động nên bị méo mó, không còn tuân theo những quy luật bình thường như trước.

Muốn chữa bệnh, phải chẩn bệnh. Căn bệnh lớn nhất của nền giáo dục là nhầm tưởng về một nghịch lý: thế giới bên ngoài đánh giá khá cao nền giáo dục Việt Nam trong khi người trong nước tin chắc nền giáo dục đang có vấn đề và muốn con em mình thoát ra khỏi môi trường giáo dục đó. Báo chí nước ngoài không hiếm bài khen ngợi giáo dục Việt Nam, nào là đứng thứ 12 trên thế giới trong bảng xếp hạng của OECD, nào là kết quả kiểm tra năng lực toán và đọc hiểu còn cao hơn cả Anh lẫn Mỹ... Nhầm tưởng ở đây là hai thái cực trước sự đánh giá này: người hoài nghi cho rằng đánh giá như thế là không chính xác, người cả tin yên chí giáo dục Việt Nam đang tốt, không có gì phải lo, không có gì phải cải tổ.

Đánh giá của nước ngoài là đúng nhưng chỉ đúng về một số kỹ năng được đem ra đo lường như khả năng làm toán của học sinh Việt Nam; nếu đo lường các kỹ năng khác như sự sáng tạo, sự tự chủ, óc phản biện, tinh thần làm việc nhóm, ắt nỗi lo của nhiều người trong nước lại được củng cố vì kết quả sẽ không đẹp như chuyện làm toán.

Trong một thế giới đang thay đổi chóng mặt như hiện nay, ngồi nhìn chàng trai sáng lập Facebook Mark Zuckerberg phải trả lời các câu hỏi ngớ ngẩn của các thượng nghị sĩ Mỹ già nua, có lẽ ai cũng đồng ý các kỹ năng đem lại sự đánh giá cao của thế giới ắt không bằng các kỹ năng học sinh Việt Nam đang thiếu để có thể thành công trong tương lai. Thậm chí chúng ta chưa biết mười năm nữa con người cần có kỹ năng gì để thành công nữa kia. Vấn đề ở chỗ nhiều người nhầm tưởng đã tốt một vế, nên để yên vế đó – vế kiến thức sách vở; tập trung giải quyết vế kia  - vế dạy làm người là ổn. Đây là điều không tưởng.

Điểm yếu cốt tử của nền giáo dục là do dồn quá sức cho các kỹ năng mang tính học thuật, từ chương, nhà trường bỏ quên hay đúng ra, không còn nguồn lực, không còn thời gian cho việc dạy học sinh các kỹ năng làm người. Để giải quyết điểm yếu này, cần phải biết đánh đổi; giảm tải việc học từ chương để dành nguồn lực cho các hoạt động giáo dục khác, rất bình thường, rất cần thiết lại bị lãng quên. Một khi áp lực điểm số từ cách học từ chương được giải tỏa mới mong môi trường giáo dục trở lại bình thường để học sinh có thể thuyết trình về bộ phim ưa thích, kể về cuốn sách thay đổi đời em hay cùng nhau làm một phần mềm nhắn tin đơn giản.

Mối quan hệ giữa thầy – trò từ chỗ người thầy như một người hướng đạo, dẫn dắt các em tập tễnh bước vào đời bằng mọi kiến thức, kể cả cách ứng xử, các tập tục, các lề thói lại trở thành người thợ dạy chữ, tìm mọi cách nhồi nhét kiến thức cho các em, bất kể sự bội thực, thậm chí nhồi nhét nhiều hay ít theo mức độ học sinh chịu đi học thêm bên ngoài nhà trường.

Sau các vụ lình xình gần đây, ắt mối quan hệ này càng thêm méo mó, người thầy ắt sẽ giữ kẻ hơn, không dám ra khỏi các vòng cương tỏa mà chương trình và giới quản lý ràng buộc bằng các quy định khắc khe. Các thầy cô từng muốn dạy rộng ra bên ngoài chương trình để giúp học sinh có các kỹ năng khác, ngoài kiến thức sách vở, ăt cũng nản lòng để rồi bám víu chương trình chính khóa như cứu cánh cho nghề nghiệp bạc bẽo của mình. Học sinh lại dễ có tư tưởng bất phục thầy cô vì cứ nghĩ kiến thức được dạy là lạc hậu, dễ thủ đắc mà đâu biết vai trò thầy cô lẽ ra còn nhiều hơn chữ nghĩa trong sách vở.

Cách duy nhất để chữa lành mối quan hệ này là tháo gỡ ràng buộc trách nhiệm bắt thầy cô phải truyền đạt từng đó, đúng từng đó kiến thức sau mỗi tiết học. Nên tháo khoán cho thầy cô để họ xây dựng mối quan hệ khác với học sinh – không chỉ là chữ nghĩa mà là cách người đi trước, có kinh nghiệm, truyền đạt cho người sau những điều cần biết, cần nắm để vào đời.

Căn bệnh lớn thứ hai của nền giáo dục là hiểu nhầm về quyền. Phụ huynh hiểu nhầm về quyền của mình nên mới có chuyện vào trường hành hung giáo viên hay bắt giáo viên quỳ gối; giáo viên hiểu nhầm quyền của mình nên mới dám đánh học sinh, mạt sát các em hay tệ hơn nữa bắt học sinh súc miệng bằng nước giẻ lau bảng. 

Đây là căn bệnh khó trị cần sự kiên nhẫn của công luận và sự nghiêm minh của pháp luật. Tác động tích cực của các vụ lình xình vừa rồi là cái đà thắng, ngăn chận các vụ việc tương tự. Thầy cô, dù bức xúc học sinh đến mấy cũng không dám vào lớp rồi im lặng suốt vài ba tháng nữa và ngược lại, học sinh nếu gặp trường hợp tương tự sẽ phản ứng chính thức với ban giám hiệu ngay. Có lẽ cũng không phụ huynh nào nóng đầu đến nỗi vào trường bắt giáo viên phải quỳ mới tha cho họ nữa đâu. Nhìn như thế mới thấy tin tức xấu về ngành giáo dục chưa hẳn vẽ nên bức tranh đen tối mà là các đốm lửa soi vào các góc khuất của ngành. 

Ở đây quan trọng nhất vẫn là giúp học sinh ý thức quyền của mình, dù ở lứa tuổi rất nhỏ. Ở nước ngoài, khó lòng xảy ra chuyện thầy cô bắt học sinh uống nước dơ vì các em hiểu rõ quyền của mình để từ chối.

Căn bệnh cuối cùng của ngành giáo dục là sự thiếu vắng tinh thần dân chủ. Ở các lãnh vực khác, đã có những bước tiến dài trên con đường dân chủ hóa như sếp ngày nay đâu dễ hù dọa hay quấy rối tình dục nhân viên bên dưới; công nhân bị sa thải sai luật là sẵn sàng kiện chủ ra tòa ngay; thậm chí cảnh sát giao thông cũng phải dè chừng những lái xe nắm rành luật, đâu dễ phạt theo cảm tính. Thế nưng tinh thần này thiếu vắng trong giáo dục.

Xin lấy một ví dụ gần đây nhất: trong một buổi giao lưu với học sinh chuẩn bị thi vào lớp 10, một học sinh hỏi liệu có còn chính sách cộng điểm ưu tiên cho học sinh đạt giải trong các kỳ thi học sinh giỏi trước đó và nếu bỏ, vì sao thầy cô nghĩ bỏ việc cộng điểm ưu tiên là đem lại công bằng cho học sinh. Một câu hỏi rất xác đáng và dễ trả lời. Thế nhưng vị đại diện cho Sở giáo dục và đào tạo địa phương lại liệt kê số hiệu văn bản rồi nói chúng ta phải sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật! Một cách trả lời trớt hướt nhưng phản ảnh tinh thần thiếu dân chủ rõ nét nhất. Vị này nghĩ học sinh nhỏ tuổi biết gì mà hỏi, người ta quy định như thế nào cứ theo đó mà làm. Hoặc, ở mức độ tốt hơn, vị này sợ trả lời sai chủ trương nên lãng tránh. Tại sao không đơn giản cung cấp thông tin cho học sinh và nói thẳng, thay đổi trong chính sách cộng điểm ưu tiên là vì các lý do như thế này hay như thế này.

Tinh thần dân chủ sẽ chữa lành nhiều mối quan hệ, như thầy cô sẽ lắng nghe học sinh tốt hơn, phụ huynh phải cho con em mình cơ hội nhận điểm kém, nhưng quan trọng nhất vẫn là mối quan hệ giữa nhà quản lý giáo dục và giáo viên. Phải bỏ suy nghĩ giáo án là pháp lệnh, phải bỏ tư tưởng thi đua có nghĩa trong lớp không có học sinh học yếu, phải bỏ tư duy thầy cô không được dạy ra bên ngoài giáo trình. Nếu hiểu vai trò của thầy cô không chỉ là dạy kiến thức mà còn giúp hình thành nhân cách ở học sinh thì sá gì cháy vài ba cái giáo án miễn sao người thầy đó thật sự là tấm gương cho học sinh ngay cả khi đã ra đời.

Wealth vs Income


Giá trị tài sản tăng nhanh hơn thu nhập, tiền đâu nộp thuế?

Dư luận phản ánh trên báo chí về dự án Luật Thuế tài sản những ngày sau khi được Bộ Tài chính giới thiệu nhìn chung là phản đối – với rất nhiều lý lẽ rất xác đáng. Một trong những lập luận khó lòng phản bác là hiện nay theo Hiến pháp đất đai thuộc sở hữu toàn dân, người dân chỉ có quyền sử dụng đất nên đất không phải là tài sản của họ đúng nghĩa. Một khi đất không thuộc sở hữu thì làm sao bắt người dân đóng thuế dưới tên gọi Luật Thuế tài sản cho được. Dù sao các thông tin đưa ra tại buổi họp báo chuyên đề về dự án này còn rất sơ sài, không đủ yếu tố để phân tích thiệt hơn của một sắc thuế như thế.

Chẳng hạn vì Bộ Tài chính cứ nhìn từ góc độ thu được bao nhiêu thuế nên các phương án toàn là nhìn từ phía quản lý nhà nước trong khi người đóng thuế muốn biết một gia đình bình thường ở đô thị đang ở căn nhà như thế thì tổng thuế hàng năm phải nộp là bao nhiêu, ở nông thôn thì nộp bao nhiêu... Với công nghệ thông tin hiện thời, rất dễ làm một phần mềm máy tính hoàn toàn tự động trên mạng, người dùng chỉ cần chọn các thông số như địa phương đang sinh sống, diện tích nhà, loại nhà... là phần mềm đơn giản này sẽ cho ra kết quả ngay. Bởi giá đất lấy theo bảng giá đất do UBND tỉnh công bố; giá nhà dựa vào suất vốn đầu tư xây dựng do Bộ Xây dựng ban hành; diện tích có sẵn trên giấy tờ chứng nhận.

Tuy nhiên, có một điều rất quan trọng chưa thấy ai đề cập: chỉ tính riêng hai chục năm gần đây, giá trị tài sản, cụ thể là nhà đất ở Việt Nam tăng với tốc độ chóng mặt, chắc chắn cao hơn tốc độ tăng thu nhập nhiều lần. Nay thuế dựa vào giá trị tài sản thì đại đa số người dân, do thu nhập tăng không kịp với đà tăng giá trị tài sản, làm sao có đủ năng lực tài chính để nộp thuế tài sản?

Nói cách khác, do các cơn sốt đất đai giá nhà đất tăng nhanh chóng, làm giá trị tài sản nói chung của cả nước tăng mạnh. Chỉ có một số ít trong đó “hiện thực hóa” mức tăng này khi tham gia vào các hoạt động liên quan đến bất động sản như mua bán, cho thuê, nhận đền bù do giải tỏa... còn đa số người dân dù thấy tài sản tăng giá nhưng họ đâu có nắm được đồng tiền do sự tăng giá đó mang lại. Một gia đình giáo viên, nhà cửa do cha mẹ để lại từ mấy chục năm nay, dù trong lòng thầm tính, giá căn nhà của họ tăng cao nhưng sự tính toán đó không đem lại hành vi tiêu dùng gì ngoài sự an tâm vì thu nhập của họ vẫn bình bình như trước. Nay bỗng dưng Nhà nước đánh thuế tài sản, dù dựa vào bảng giá chính thức, vẫn là một khoản chi tiêu rất thực, gia đình này lấy đâu thu nhập để đóng thuế?

Nhìn rộng ra hơn nữa, rõ ràng GDP đầu người của Việt Nam tăng khá nhanh nhưng còn lâu mới bắt kịp các nước giàu như Singapore, chẳng hạn. Thế nhưng giá trị tài sản, cụ thể là đất đai ở Việt Nam tăng nhanh và có thời điểm, có khu vực bắt kịp với giá địa ốc ở những nơi được xem là đắt đỏ. Một phép tính đơn giản cũng có thể cho thấy điều đó: giá nhà ở Anh, theo số liệu chính thức, bằng 7,6 lần thu nhập hàng năm; ở Canada tỷ lệ cũng tương tự. Giá nhà ở Mỹ gấp chừng 5 lần thu nhập trung vị. Còn giá nhà ở Việt Nam hiện nay? Cứ lấy giá chừng 2 tỷ đồng và lương bình quân 10 triệu đồng thì giá nhà ở Việt Nam gấp 16 lần!

Thử hình dung những hoàn cảnh như thế này: một gia đình hưu trí cách đó mấy chục năm được hóa giá một căn nhà với giá rẻ, nay thu nhập của họ chỉ có lương hưu, chưa đủ để sinh sống, lấy đâu ra tiền nộp thuế tài sản trên một giá trị rất cao so với thu nhập của họ. Hoặc hai căn nhà sát nhau, một căn được chủ nhà cho thuê, căn kia thì không. Bởi có cho thuê nên trị giá tăng cao của tài sản đã được tính vào giá thuê còn chủ nhà kia thì chịu, không thể “hiện thực hóa” giá trị tài sản. Vậy đánh thuế tài sản như nhau lên hai căn nhà này liệu có công bằng.

Ngược lại, những người dựa vào sự tăng giá của tài sản, nói thẳng ra là đầu tư vào đất đai, để nhanh chóng làm giàu thì xứng đáng phải nộp thuế tài sản. Ở Việt Nam, chênh lệch giàu nghèo không hẳn do thu nhập trực tiếp đem lại; chênh lệch giàu nghèo ngày càng lớn phần nhiều do chêch lệch về tài sản và khai thác tài sản mà ra. Ở Việt Nam đất đai trở thành nguồn tư bản tạo ra những tỷ phú qua đêm. Có những thời điểm, rõ ràng thu nhập từ 100 năm lao động miệt mài cũng không bằng lợi nhuận do đất đai mang lại trong vài ba tháng.

Cách hay nhất để triệt tiêu sự mất công bằng nói trên là xác định đối tượng chịu thuế tài sản. Thuế tài sản chỉ nên đánh vào những tài sản được đưa vào kinh doanh; với người dân bình thường không kinh doanh thuế tài sản chỉ đánh vào ngôi nhà thứ hai trở đi. Còn một sắc thuế áp dụng đại trà có lẽ phải chờ thêm một thời gian khi GDP đầu người Việt Nam tăng kịp đà tăng của tài sản như các nước đang áp dụng thuế tài sản.  


Bất cận nhân tình

Nền kinh tế không có gương mặt người

Uber kết thúc những chuỗi dài tranh cãi tại Việt Nam với giới quản lý, với taxi truyền thống bằng cách rút hẳn khỏi thị trường Đông Nam Á, nhường chân cho Grab để đổi lấy phần hùn trong công ty này. Nay có lẽ chẳng ai quan tâm xác định Uber là doanh nghiệp vận tải hay công ty công nghệ có phần mềm kết nối lái xe và người tiêu dùng. Và nay xuất hiện các nỗi lo như thương vụ mua bán này tạo cơ hội để Grab thao túng một thị trường gần như độc quyền...

Thật ra, Uber ra đi, đã để lại một bài học lớn cho cả khu vực: đó là nền kinh tế kỹ thuật số với những mô hình kinh doanh ưu việt lại là nền kinh tế không có gương mặt người. Điều này không những đúng cho Uber mà còn ứng với nhiều loại hình kinh doanh kỹ thuật số khác.

Với một doanh nghiệp bình thường, khi thương lượng bán hoạt động cho doanh nghiệp khác, điều thường trực trong bàn đàm phán là số phận nhân viên, là cách tiếp nhận khách hàng cũ, là sự tiếp nối những truyền thống làm nên văn hóa của doanh nghiệp trước khi bán đi.

Đằng này hàng ngàn người vay vốn ngân hàng, đầu tư vào một chiếc xe để chạy dịch vụ cho Uber, hoàn toàn không ngờ một hôm thức dậy, Uber không còn tồn tại với họ. Dĩ nhiên nhiều người trong số họ vẫn sẽ tiếp tục đầu quân cho Grab nhưng với họ, Uber là sự bội tín khi từng dùng nhiều từ hoa mỹ để lôi kéo họ vào cuộc chơi, kể cả mang nợ không nhỏ với ngân hàng. Trước đó hàng ngàn tài xế taxi truyền thống, do cạnh tranh không lại với các chiêu thức giảm giá cho khách hàng và thưởng cho lái xe nên đã bỏ hãng, vay tiền mua xe chạy Uber và nay lại gặp cảnh tiến thoái lưỡng nan.

Nếu bị chất vấn, ắt Uber cũng có lập luận để thoát như mọi cuộc tranh luận trước: tài xế không phải là nhân viên của chúng tôi nên chúng tôi không có trách nhiệm lo cho họ, chúng tôi chỉ cung cấp sự kết nối!

Đây chính là đặc điểm “bất cận nhân tình” của Uber nói riêng và kinh tế kỹ thuật số nói chung. Facebook, Google chỉ xem người dùng là các số liệu thống kê để họ tăng giá trị cổ phiếu và để bán thông tin cho ai muốn mua. Đừng trông chờ họ bảo vệ sự riêng tư cho người dùng. Một khi người ta xem các hoạt động của từng cá nhân chỉ như các chấm li ty trong bức tranh “dữ liệu lớn – big data” thì làm sao các mô hình này có gương mặt người cho được.

Thiết nghĩ đây là yếu tố quan trọng nhất trong cân nhắc của các nhà làm chính sách, giới quản lý mỗi khi suy tính cách ứng xử với các mô hình mới của nền kinh tế số, kể cả những trào lưu làm nên cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 được đến quá nhiều thời gian qua. Dùng robot để thay công nhân thì quá hay, quá tuyệt vời nhưng cũng phải nghĩ đến số phận những người công nhân bị tước đoạt công việc chứ. Đặt máy chủ ở trong hay ngoài nước đâu quan trọng bằng, giả dụ, một quy định, cho phép người dùng biết rõ họ bị thu thập thông tin gì từ trước tới nay (mà châu Âu đã ban hành).

Quan tâm đến lợi ích của người tiêu dùng, tức người dân; bảo vệ quyền lợi của họ trước mọi rủi ro xâm hại... những góc nhìn đó còn quan trọng và cấp bách hơn chuyện thu được đồng thuế từ các doanh nghiệp trong nền kinh tế kỹ thuật số. Và biết đâu những doanh nghiệp khởi nghiệp trong các lãnh vực mới biết chú ý đến tính người lại thành công vượt trội, hơn cả Uber hay Grab nữa.

Monday, March 19, 2018

Ở đâu ra từ THU GIÁ quái đản?


Không được độc quyền chữ “phí”

Mỗi lần nhìn thấy cụm từ “thu giá”, người viết bài này không khỏi nổi gai ốc vì sự xâm phạm thô bạo tiếng Việt bởi từ đời thuở nào tiếng Việt của chúng ta có cách nói như thế này. Căn do là bởi những người liên quan đến Luật Phí và lệ phí cứ khăng khăng bám vào từng câu chữ của luật này để giành lấy quyền sử dụng từ “phí” và “lệ phí” chỉ trong một số trường hợp luật có quy định; còn lại phải gọi là giá dịch vụ hết thảy.

Để khỏi trích dẫn dài dòng định nghĩa từ “phí” và “lệ phí” ghi trong luật, chúng ta biết chỉ dùng “phí” và “lệ phí” khi liên quan đến dịch vụ công và có trong danh mục ban hành kèm theo luật. Vì thế tiền chúng ta trả khi sử dụng các con đường xây theo dạng BOT không được gọi là phí vì không phải dịch vụ công và không nằm trong danh mục phí. Đơn giản vậy thôi và nghe qua cũng khá hợp lý!

Thế nhưng những người nằng nặc đòi công chúng phải sử dụng cụm từ “thu giá” phải hiểu một điều rất quan trọng: định nghĩa từ ngữ như trong luật là chỉ để dùng trong luật (Luật Phí và lệ phí cũng ghi rõ: “Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:) Luật định nghĩa xong không có nghĩa xã hội từ nay không được dùng “phí” và “lệ phí” theo cách xã hội đã dùng bấy lâu nay.

Trước đây tại Quốc hội nhiều đại biểu hay nói “phí chồng lên phí” nay những đại biểu này nếu phát biểu lại, e phải chuyển sang dùng “giá chồng lên giá”! Các nơi từng in tờ rơi giới thiệu “biểu phí dịch vụ”, “phí giao dịch môi giới”, “biểu phí dành cho khách hàng cá nhân”... nay phải sửa lại hết sao. 

Chỉ cần nhìn hai ví dụ sau đây, chúng ta sẽ thấy ngay việc độc quyền từ “phí” nó phi lý như thế nào. Lâu nay ai cũng nói “viện phí” và “học phí”. Nay chiếu theo danh mục tiền đóng cho bệnh viện hay trường học không hiện diện nên không được gọi là phí nữa. Và theo những người chủ trương “thu giá”, không lẽ bây giờ chúng ta phải nói “viện giá” và “học giá” theo họ? Chắc chắn không có chuyện này, vậy tại sao cứ đòi dùng “thu giá”.

Nói tóm lại, mỗi từ thường có nhiều nghĩa; “phí” và “lệ phí” như định nghĩa trong luật là một trong những nghĩa này. Bộ Giao thông Vận tải cứ dùng theo luật và xã hội cứ dùng theo các nghĩa khác của từ “phí” mà tự điển đã ghi nhận. Như từ “học phí”, đố ai cấm được và đòi thay bằng giá?

Điểm thứ hai, cho dù rạch ròi như cách hiểu của những người chủ trương nói “thu giá” thì cách hiểu và áp dụng Luật Phí và lệ phí của họ cũng có vấn đề. Trong phụ lục số 2 kèm theo luật, là danh mục các sản phẩm, dịch vụ chuyển từ phí sang giá dịch vụ, “phí sử dụng đường bộ” được chuyển thành “dịch vụ sử dụng đường bộ của các dự án đầu tư xây dựng đường bộ để kinh doanh”. Tức trước nói “thu phí” thì nay phải nói là “thu tiền dịch vụ...” chứ sao lại gọi là “thu giá”.

Giá là biểu hiện trị giá của hàng hóa hay dịch vụ; còn khi mua bán, trao đổi, nó chuyển thành tiền hay các đơn vị đo lường khác của giá. Một căn nhà có giá 1 tỷ đồng hay 100 lượng vàng thì khi mua người mua trả tiền hay trả vàng để nhận nhà; người bán thu tiền hay thu vàng để giao nhà chứ có ai nói trả giá hay thu giá!

Lấy một ví dụ đơn giản khác trong danh mục này, phí trông giữ xe được chuyển thành dịch vụ trông giữ xe. Bạn đến gởi xe tại một bãi giữ xe, trước đây bạn nói trả phí giữ xe nay ắt do thói quen bạn cũng sẽ giữ nguyên cách nói này. Quan chức, để đúng theo luật, sẽ nói thu tiền giữ xe? Giá dịch vụ giữ xe là tên gọi cho biết dịch vụ đó tốn bao nhiêu tiền; còn khi miêu tả hành động thanh toán giá dịch vụ này, người ta sẽ nói trả tiền, thu tiền chứ có ai nói “trả giá” “thu giá” đâu?

Cho dù nhìn từ góc độ quản lý nhà nước, dùng từ cho chính xác theo luật thì cũng nên viết cho đúng tiếng Việt. Chẳng hạn, chi phí cho việc khám chữa bệnh gọi là giá dịch vụ khám chữa bệnh chứ không dùng phí như trong cụm từ phổ biến “viện phí” nữa thì cũng nên nói thu tiền dịch vụ chứ đừng o ép tiếng Việt đẻ ra cái cụm từ “thu giá” không giống ai.





Saturday, March 17, 2018

Bối rối trước chuyện 4.0


Khi chuyện làm bánh cưới lên đến Tòa án Tối cao

Chúng ta mãi mê nói về cách mạng công nghiệp 4.0, về trí tuệ thông minh nhân tạo, về vạn vật kết nối… mà bỏ quên yếu tố nhân văn, e rằng sẽ lập lại sai lầm của câu chuyện toàn cầu hóa.

Dị ứng cũng phải phục vụ

Jack Phillips là chủ một tiệm bánh nhỏ ở Colorado, chuyên làm bánh cưới theo đặt hàng. Ông tự hào xem các mẫu bánh ông sáng tạo theo từng cặp đến đặt là những tác phẩm nghệ thuật. Cho đến một hôm vào tháng 7 năm 2012, một cặp đồng tính đến nhờ Jack làm bánh cưới cho họ. Ông từ chối, nói không thể thiết kế rồi thực hiện cái bánh cho đám cưới hai người đàn ông này vì nó đi ngược lại đức tin tôn giáo của ông.

Thế là cặp này kiện ông ra tòa; tòa bang Colorado tuyên họ thắng, ông thua, phải làm bánh theo yêu cầu của khách. Jack không đầu hàng, ông kháng án nhiều lần lên tận Tòa án Tối cao, nơi thường xử các vụ kiện quan trọng, liên quan đến diễn giải Hiến pháp, làm án lệ cho cả hệ thống tư pháp Mỹ. Mỗi năm nơi này nhận chừng 10.000 đơn nhưng chỉ xử 80 vụ. Bất ngờ là Tòa án Tối cao lại chấp nhận xử vụ kiện hy hữu này và có thể có phán quyết vào đầu năm tới.

Khi nói cuộc sống thay đổi, người ta thường nghĩ đến các thay đổi do khoa học công nghệ đem lại như hiện nay TV phẳng đã thay thế hầu hết TV kiểu cũ chỉ trong vòng vài năm ngắn ngủi. Nhưng trong thực tế, các thay đổi về văn hóa, lối sống, chuẩn mực xã hội còn sâu đậm hơn nhiều.

Thử nhớ lại cách đây chỉ mới vài chục năm, Alan Turing, người được xem là cha đẻ của máy tính, một anh hùng của nước Anh thời Thế chiến thứ nhì nhờ làm ra máy bẻ khóa mật mã của Đức thế mà năm 1952 lại bị kết án vì tội… đồng tính. Ông bị đặt trước hai chọn lựa, hoặc ngồi tù, hoặc phải tự nguyện “thiến” (bằng hóa chất) để “trị bệnh”. Ông chọn cái sau và hai năm sau đó chọn cái chết.

Hôm nay không ai hiểu nổi vì sao có thời người ta độc ác với nhau đến thế, xâm phạm đến quyền tự do cá nhân đến thế. Alan Turing có là người đồng tính thì đó là chọn lựa của cá nhân ông, có ảnh hưởng gì đến xã hội mà nước Anh phải đối xử như thế với một người có công kéo ngắn Thế chiến thứ nhì đến hai năm, theo đánh giá của nhiều sử gia.

Thời gian trôi qua nhanh, sau nhiều sự kiện vật đổi sao dời và cho đến bây giờ, không chỉ chuyện "gay",  cả chuyện hôn nhân đồng tính đã được chính thức thừa nhận ở nhiều nước. Thế nhưng không phải tất cả mọi người đều thoải mái. Thái độ của xã hội luôn là đa dạng nên thái độ với hôn nhân đồng tính có thể từ nhiệt tình ủng hộ, thừa nhận và coi là bình thường, ngó lơ đến phản đối trong lòng và phản ứng ra mặt. Có một thời ứng xử của xã hội đi theo con đường “phải đạo”, tức chìu theo xu hướng cấp tiến nên những ai chê bai hay tỏ vẻ dị ứng với hôn nhân đồng tính thì bị cô lập, bị xem là lạc hậu, bảo thủ.

Câu chuyện đi quá đà theo hướng cấp tiến này xảy ra trong nhiều lãnh vực. Thập niên 1960 với phong trào người da đen đòi quyền bình đẳng dẫn tới chủ trương “affirmative action” (tức chính sách nâng đỡ người da màu trong tuyển sinh, tuyển dụng), phát huy tác dụng một thời nhưng sau đó làm thanh niên Mỹ da trắng phản ứng bị thiệt thòi nhiều thứ. Phong trào nam nữ bình quyền cũng có những hiệu ứng tích cực và tiêu cực tương tự.

Nhìn lại vụ kiện làm bánh, có thể thấy đây là một vụ khó xử. Lẽ thường cho thấy Jack Phillips là chủ tiệm thì phải có quyền từ chối khách ông không muốn phục vụ nhưng phân biệt đối xử dựa trên các hình thức khác biệt như khác biệt chủng tộc, màu da, tôn giáo từng bị cấm ở Mỹ. Chẳng hạn sau rất nhiều cuộc biểu tình, đấu tranh kể cả bạo lực, nước Mỹ mới đi đến quyết định các tiệm ăn nào từ chối phục vụ người da đen là sai luật. Nay với phân biệt dựa trên xu hướng giới tính, hàng loạt vụ kiện tương tự, kiểu như nhà chụp ảnh từ chối chụp, tiệm bán hoa từ chối trang hoàng, nhà hàng từ chối đặt tiệc cho đám cưới đồng tính đều bị xử thua.

Thế nhưng với Tòa án Tối cao, lập luận của Jack Phillips là dựa vào quyền tự do ngôn luận bởi ông nói cặp đồng tính kia nếu mua bất kỳ thứ bánh nào đã làm sẵn thì ông sẵn sàng phục vụ nên không có chuyện phân biệt đối xử. Ông nói khi trang trí cho bánh, ông đã dùng tư duy sáng tạo của ông để làm ra sản phẩm, đó là ngôn ngữ biểu cảm của ông. Nếu bắt buộc phải phục vụ cho đám đồng tính kia, luật pháp đã vi phạm đến quyền tự do ngôn luận của ông, bắt ông nói ra điều ông không muốn nói!

Chưa biết tòa sẽ xử như thế nào nhưng Jack Phillips là đại diện bất đắc dĩ cho một tỷ lệ không rõ nhiều hay ít. Đó là những người suy nghĩ, ừ thì hôn nhân đồng tính, muốn sao cũng được nhưng đừng dính líu gì đến tôi vì tôi không thích. Tôi phải có quyền từ chối sáng tạo cho cái tôi không thích chứ; tôi phải có quyền sống theo ý muốn của tôi, trong không gian của tôi chứ.

Phản ứng khi bị ép quá đáng

Nhìn rộng ra một chút, thế giới đang trải qua những thay đổi to lớn, phần lớn là thay đổi tích cực làm cuộc sống dễ chịu hơn, đầy đủ tiện nghi hơn, con người ít hung hãn với nhau hơn. Tuy nhiên, cũng như quả lắc khi quay quá đà, luôn có những phản kháng của những nhóm người thua thiệt, không muốn bị xô đẩy theo các trào lưu. Rõ nhất là trong lãnh vực kinh tế khi đã từ lâu sự phản kháng toàn cầu hóa đã thu hút khá nhiều người dân ở nhiều nước. Đến nay những người bị mất việc do toàn cầu hóa đưa nhà máy của họ đi nơi khác đã tập hợp trở lại thành một lực lượng đáng kể trong môi trường chính trị ở nhiều nước phương Tây.

Sự lộn xộn, sự mâu thuẫn, sự bất nhất trong nhiều hoàn cảnh chính là biểu hiện của hai thái cực: ủng hộ các thay đổi và phản ứng lại khi thấy nó quá đà. Lấy ví dụ, báo chí từng cổ vũ cho xu hướng "báo chí công dân" khi những người dân bình thường, với các phương tiện sẵn có và các sân chơi như blog hay sau này là Facebook có thể trở thành nhà báo bất kỳ ở đâu, bất kỳ lúc nào. Nhiều người xem đó là sự trao quyền cho những người yếu thế để họ có một diễn đàn ngang ngữa với các tờ báo lớn. Nhưng nay nhiều tờ báo phải xem lại quan điểm đó khi tin giả, tin giật gân, tin nửa thật nửa giả, tin nhảm tràn lan trong thế giới "báo chí công dân" này. Họ là đòi hỏi người đọc phải biết phân biệt vàng thau và quay trở lại đề cao uy tín của báo chí chính thống.

Bộ máy tìm kiếm của Google thì quá tuyệt vời rồi nhưng giả thử một ngày đẹp trời nào đó chúng ta có một trang web bán xe đạp và muốn Google giúp để bất kỳ ai tìm kiếm mua xe đạp thì được dẫn tới trang web của chúng ta. Chuyện này không dễ vì hàng trăm hàng ngàn trang web bán xe đạp khác, dưới sự "hướng dẫn" của các chuyên gia SEO đã có những thủ thuật để trang của họ xuất hiện đầu kết quả tìm kiếm. Nhiều trang khác biết cách liên kết với các trang có thứ hạng cao nên cũng chen lên. Cách duy nhất là chúng ta trả tiền cho Google để họ đẩy trang chúng ta lên, dán một cái nhãn Ad nhỏ xíu ở đầu trang.

Các thay đổi đều dẫn tới một sự đánh mất các chọn lựa, đánh mất sự tự do như thế. Các khách sạn trong nước đang đau đầu vì sự phụ thuộc ngày càng lớn vào các trang dịch vụ đặt chỗ, các báo điện tử chỉ còn biết dựa vào Google Adsense… chỉ là một số ví dụ dễ thấy nhất. Trong tương lai không xa, nhà xuất bản phải dựa vào Amazon để bán sách, ca sĩ phải dựa vào Apple Music để phát hành đĩa nhạc… là chuyện có thể xảy ra.

Vì thế, hăm hở với cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 thì cứ hăm hở nhưng đừng bỏ quên yếu tố con người. Chuyện gì sẽ xảy ra khi máy may công nghiệp tự động phá vỡ các dây chuyền may, làm hàng triệu công nhân mất việc? Vạn vật kết nối thì quá tốt nhưng biết đâu bọn tin tặc theo đó vào tận phòng ngủ để mở khóa trộm xe, trộm tiền. Xu hướng gì thì xu hướng, điều quan trọng nhất là phải để cho con người một không gian tự do nơi họ có thể đưa ra các chọn lựa của riêng họ. Chứ như bây giờ để sống và làm việc một cách bình thường trong xã hội thì một người bình thường không thể vất bỏ điện thoại di động, ngắt kết nối, khóa hộp thư điện tử mà vẫn đạt một mức hiệu quả mong muốn.








Bối rô

Thursday, March 15, 2018

Phong trào thành phố thông minh


Thông minh hay hợp xu thế?

Đường phố đô thị đang trải qua nhiều biến đổi. Nhiều năm trước trên mỗi con đường, ắt hẳn có vài tiệm Internet công cộng, vài nơi cho thuê băng đĩa, gom vài đường ắt có tiệm “kim khí điện máy” bán TV, tủ lạnh, máy móc đủ loại. Nay chúng biến đâu mất. Các sạp báo đầu đường cũng không còn.

Sự thay đổi đó đến dần dần nhưng khi nhìn lại mới giật mình thấy sao nhanh thế. Vì thế hôm nay đưa ra vài tiên đoán cho đường phố đô thị chục năm nữa, có lẽ cũng không phải là quá đáng.

Với xu thế mua bán qua mạng ngày càng chiếm tỷ trọng lớn, tiền thuê mặt bằng cao, nhân công đắt đỏ, có thể dự báo các cửa hàng đủ loại, đủ kiểu đang làm nên bộ mặt đô thị nhộp nhịp của Việt Nam sẽ thay đổi. Đầu tiên, các dịch vụ bán hàng sẽ chuyển dần vào ngõ vì họ không cần quảng bá bằng mặt tiền nữa; khách hàng đến với họ nhờ thông tin tìm kiếm trên mạng. Hiện nay xu hướng này đã diễn ra, nhiều nơi kết hợp sự hiện diện rất mạnh, rất ầm ĩ trên không gian mạng và nơi tiếp xúc với khách, có thể nhỏ, ở đường hẹp, giá mặt bằng rẻ hơn nhiều.

Đường xá đông đúc chật chội, chỗ để xe gắn máy bất tiện trong khi dịch vụ giao hàng tận nhà phát triển mạnh, càng làm giảm nhu cầu mở cửa hàng trên các phố chính. Sau đó, khi cuộc sống khá lên, người dân chuyển từ xe gắn máy sang xe hơi, càng làm các trung tâm thương mại lớn ở ngoại ô đông khách còn phố xá với từng cửa hàng riêng lẻ, không tiện ghé càng thêm vắng lặng.

Như thế, tại sao không dám dự báo, giá nhà phố, nhà mặt tiền sẽ giảm mạnh trong nhiều năm tới đến nỗi không cạnh tranh nổi với nhà biệt lập ở ngoại ô. Lối sinh hoạt của người dân cũng thay đổi theo, họ sẽ mua sắm cho mọi nhu cầu ở các trung tâm thương mại lớn; nhu cầu đột xuất hàng ngày thì vào các cửa hàng tiện lợi. Lúc đó phố xá chắc chỉ còn lại nhà hàng ăn uống, tiệm cà phê và cửa hàng tiện lợi! Người dân không còn mặn mà với chuyện sống ở nội đô cho thuận lợi việc mưu sinh nữa; họ sẽ dịch chuyển ra xa, để đòi hỏi các khoảng không gian xanh, tránh cảnh kẹt xe, ngập nước.

Liệu việc quản lý đô thị, quy hoạch đô thị và chuyện thời thượng – xây dựng thành phố thông minh đã tính đến các yếu tố biến đổi này chưa?

*                             *                             *

Năm 2017, tần suất xuất hiện cụm từ “thành phố thông minh” tăng vọt bởi theo Thông tấn xã Việt Nam đã có đến 30 tỉnh, thành phố ký biên bản ghi nhớ với các doanh nghiệp trong và ngoài nước để xây dựng thí điểm các thành phố thông minh. Trong đó chỉ tính riêng Viettel đã ký cả chục thỏa thuận hợp tác xây dựng thành phố thông minh với các nơi như Thái Nguyên, Phú Yên, Hải Dương, Huế, Bình Phước, Hưng Yên, Đà Nẵng, Phú Thọ, Cà Mau, TPHCM…

Đứng trước một hiện tượng có khả năng biến thành phong trào như thế, câu hỏi đặt ra là nên có thái độ ứng xử như thế nào? Làm sao để ủng hộ việc đưa công nghệ thông tin và viễn thông vào quản lý đô thị để tận dụng các tiến bộ mới nhất trong lãnh vực này nhưng không rơi vào bẫy “nhà nhà đua nhau làm” vừa tốn kém mà cuối cùng không giúp gì cho năng lực quản lý.

Điều đầu tiên nên ghi nhận là các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp châu Âu rất giỏi trong việc truyền bá, mở rộng thị trường giải pháp thành phố thông minh để bán sản phẩm và dịch vụ. Vì thế tài liệu, các bài nói chuyện, thuyết trình, các video minh họa là không thiếu; nhiều video rất hấp dẫn, xem xong ai cũng ước gì mình được sống trong một thành phố như thế. Thực tế chưa thấy một thành phố nào trên quy mô bình thường, chứ chưa cần lớn, xây dựng thành công, biến mình thành một thành phố thông minh đúng nghĩa và lâu bền.

Vì vậy các khái niệm gắn với thành phố thông minh như mạng lưới kết nối được thiết kế sao cho tối ưu hóa nguồn lực hay các ví dụ minh họa như thùng rác có cảm biến thông minh, báo ngay cho xe rác tới lấy khi đầy… chỉ là nói cho sướng lỗ tai chứ thực tế không dễ dàng như vậy. Thành phố cũng không bỗng dưng thông minh lên khi bỏ tiền ra lắp các hệ thống camera quan sát khắp nơi dù có thể thỉnh thoảng giúp phát hiện các vụ trộm vặt.

Xây dựng thành phố thông minh có nghĩa đón đầu các xu thế thay đổi do công nghệ đem lại để từ đó có các chính sách tối ưu chứ không thể là bỏ tiền ra đầu tư cho công nghệ để mong thay đổi cuộc sống. Nói cách khác, thành phố thông minh không thể là mục đích tự thân mà là kết quả khi tập trung nỗ lực giải quyết các vấn đề do quản lý đô thị đem lại một cách thông minh.

*                             *                             *

Trong lãnh vực y tế, khi mọi hồ sơ bệnh án cùng các tham số sức khỏe của mọi người đều được số hóa, khi cần, có thể truy cập nhanh chóng, dễ dàng, ngay cả bằng điện thoại di động, cái đó ắt là đích nhắm của một thành phố thông minh trong lãnh vực này. Thế nhưng giả thử Nhà nước bỏ tiền đầu tư để giúp đẩy nhanh việc số hóa này có được không –không ngân sách nào gánh nổi chuyện này. Nhu cầu đó là có thật, các bệnh viện phải tự cải tiến dịch vụ để lưu mọi hồ sơ lên mây, trao quyền truy cập và chia sẻ thông tin cho bệnh nhân và người thân được ủy quyền của họ. Như vậy vai trò của quản lý nhà nước về mặt y tế để đón đầu xu hướng “thông minh hóa” này là định ra những quy chuẩn để việc trao đổi thông tin giữa các bệnh viện, giữa các trung tâm xét nghiệm được suôn sẻ, nói cùng một ngôn ngữ. Vai trò đó cũng là đặt ra các biện pháp để bảo vệ quyền riêng tư của người bệnh để thông tin về sức khỏe của họ không bị rò rỉ, không bị mua bán để bên thứ ba kinh doanh.
Đó chỉ là một ví dụ trong hàng chục, hàng trăm lãnh vực bao trùm cuộc sống của người dân ở đô thị. Hãy thử nhìn thêm một lãnh vực liên quan trực tiếp đến quản lý nhà nước: hành chính công. Người viết rất ấn tượng trước nỗ lực cải cách hành chính công trực tuyến của Phường Tân Định, Quận 1 khi thấy nhiều băng rôn quảng bá cho các dịch vụ mà người dân có thể làm ngay trên mạng. Từ trích lục hộ tịch, đến các thủ tục địa chính, xây dựng; từ phản ánh góp ý đến theo dõi tiến độ hồ sơ, người dân đã có thê vào mạng để thực hiện.

Thế nhưng tại sao không gom trang dịch vụ công trực tuyến của một phường như vậy vào chung với các phường khác của cả thành phố. Người dân ở bất kỳ nơi nào chỉ cần nhớ một địa chỉ duy nhất, vào rồi chọn lựa quận, phương nơi họ sinh sống để thực hiện các dịch vụ công. Làm như thế vừa tránh lãng phí cơ sở hạ tầng, chi phí đầu tư ban đầu, vừa có một đầu mối tiếp nhận và phân phối yêu cầu. Hiện nay vào trang web dịch vụ công trực tuyến của cả TPHCM cũng đã có nhưngkhi chọn đăng ký hộ tịch trực tuyến chẳng hạn lại được chuyển về trang đăng ký chung của cả nước do Bộ Tư pháp tổ chức! Nói chung là một mạng phức tạp khó cho người dùng chứ chưa thể nói là “thông minh” được.

Đón đầu xu thế để có giải pháp thông minh là một chuyện; chuyện còn lại là sự đón nhận của người dân. Hiện nay nhiều dịch vụ hành chính công, kể cả xin cấp bằng lái xe quốc tế, đăng ký thành lập doanh nghiệp, đổi hộ chiếu… nếu làm qua mạng sẽ thuận tiện, nhanh hơn và đơn giản hơn làm trực tiếp. Thế nhưng nhiều người dân vẫn chọn lựa con đường làm trực tiếp; có thể vì tâm lý chắc ăn, vì chưa tin vào phương thức giao tiếp ảo, vì thiếu phương tiện… Vì thế sau này cho dù đã có phần mềm cảnh báo các điểm ngập do triều cường hay phần mềm thông báo các điểm đang kẹt xetrên điện thoại di động, chúng cũng không giúp giải quyết vấn đề và người dân cầm các ứng dụng thông minh trên tay mà vẫn bó chân chờ nước rút hay xe hết kẹt. Đó sẽ là thực tế khắc nghiệt kiểm tra xem thành phố đã thông minh thật chưa.



Phonh

Ngược sáng

 Ngày trước lúc nào cũng nghe khuyên chụp ảnh thì đừng chụp ngược sáng. Có lẽ họ sợ chụp như thế mặt của người mẫu sẽ tối thui. Ngày nay máy...