Friday, December 26, 2008

Se ra sao, nam 2009?

Sẽ ra sao, năm 2009?

Nguyễn Vạn Phú

Nếu thử đọc lại các bài báo trên số đầu ra năm 2008, không một tác giả nào có thể dự đoán được một phần những gì thực sự diễn ra trong năm. Không ai thấy được quy mô của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, dẫn đến sự sụp đổ của nhiều tên tuổi đã đứng vững qua nhiều biến động trước đây. Có lẽ thế nên tờ Economist, trong số báo đặc biệt “Thế giới năm 2009” tập hợp các tiên đoán cho năm tới đã phải đăng bài “Năm 2008, chúng tôi xin lỗi”, vừa thú nhận họ không dự báo được những sự kiện chính trong năm vừa qua, vừa phân bua tiên đoán sai hay đúng, không quan trọng. Vấn đề là chụp bắt được những xu hướng chính sẽ định hình cho năm tới.

Điều có thể nói chắc chắn cho năm 2009 là khủng hoảng kinh tế ở nhiều nước vẫn diễn biến khó lường. Chẳng hạn, nhiều nhà phân tích cho rằng đồng đô-la Mỹ trước sau gì cũng sẽ mất giá mạnh so với đồng tiền nhiều nước khác vì hiện nay chính phủ Mỹ tung hàng ngàn tỷ đô-la để vừa cứu các tập đoàn tài chính, vừa để kích thích nền kinh tế. Tiền không phải là tài sản nên sẽ đến lúc các nhà đầu tư phải quay lưng với đồng đô-la, nhất là khi lãi suất đồng tiền này quá thấp như hiện nay. Lẽ ra nước Mỹ phải gánh chịu mức lạm phát cao nhưng nhờ giá dầu và các hàng hóa khác đang xuống thấp nên áp lực lạm phát chưa cao. Lạm phát cũng là lối thoát cho gánh nặng nợ nần của Mỹ nhưng sẽ tạo gánh nặng mới cho người dân Mỹ. Có lẽ năm 2009, đây là hai lực kéo chi phối nền kinh tế nước này và sẽ có những tác động sâu rộng lên kinh tế thế giới.

Nỗ lực thoát khủng hoảng tại nhiều nước cũng sẽ tập trung vào các vấn đề cơ bản hơn của hệ thống tài chính nhiều khiếm khuyết. Trước mắt, các diễn giải cổ vũ đơn thuần cho toàn cầu hóa theo kiểu “Thế giới phẳng” sẽ gặp phải sự hoài nghi gấp nhiều lần trước đây. Mặc dù lãnh đạo nhiều nước cam kết không lập nên rào cản thương mại thế giới, xu hướng tự do hóa thương mại, vì những lý do khách quan như bế tắc trong thanh toán quốc tế, sẽ chững lại. Các nước sẽ quay về nhiều hơn với thị trường nội địa, giảm bớt chuyện gia công bên ngoài (outsourcing), giảm bớt phụ thuộc vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Sự tắc nghẽn tín dụng trong những tháng cuối năm 2008 sẽ tác động mạnh lên sản xuất và đến lượt mình, khách hàng truyền thống của ngành ngân hàng, tức các khoản vay để sản xuất, sẽ tạo một đợt khó khăn mới cho hệ thống tài chính, chứ không còn là tín dụng địa ốc dưới chuẩn và các sản phẩm phái sinh độc hại như năm 2008 nữa.

Với doanh nghiệp, mục tiêu của năm 2009 là tồn tại chứ không phải là tìm cách phát triển hay bành trướng như những năm trước. Trong bối cảnh đó, các công ty trước đây bị chê trách là giữ tiền mặt quá nhiều trên bảng cân đối kế toán sẽ có lợi thế hơn các công ty áp dụng cách thức “lúc cần mới có”, các doanh nghiệp đã định hình sẽ ổn định hơn loại doanh nghiệp mới hình thành và trên đà phát triển. Vì thế những khái niệm một thời thịnh hành như “just-in-time” (giữ mức nguyên vật liệu đúng theo nhu cầu sản xuất) sẽ nhường bước cho quan điểm “tiền mặt là vua”. Các tập đoàn lớn vì cũng không thể dựa vào thị trường của các nền kinh tế mới nổi để bù đắp cho thị trường các nước giàu nên có lẽ sẽ phải vẽ lại kế hoạch kinh doanh toàn cầu của họ. Sẽ có một xu hướng khá rõ từ cuối năm 2008 là các công ty chuyên về hạ tầng đang chuẩn bị cho một đợt làm ăn rầm rộ một khi chính phủ các nước triển khai các kế hoạch kích thích nền kinh tế, bắt đầu từ các dự án hạ tầng cơ sở.

Với người tiêu dùng, cũng trong ấn bản “Thế giới năm 2009”, tờ Economist tiên đoán các thương hiệu ăn chắc mặt bền sẽ đứng vững, kiểu như hãng xúp đóng hộp Campbell’s, các thương hiệu xa xỉ như Louis Vuitton sẽ gặp khó, không những chỉ vì khách hàng hết tiền tiêu hoang mà còn vì mua sắm một cái ví Louis Vuitton giá hàng ngàn đô-la trong thời buổi khó khăn này chẳng khác gì cười nhạo vào mũi những đồng loại đang thất nghiệp. Xếp hạng thương hiệu của Interbrand năm 2008 đánh giá tổng giá trị bốn thương hiệu hàng đầu trong lãnh vực tài chính – Merrill Lynch, AIG, Morgan Stanley và Goldman Sachs vào khoảng 37 tỷ đô-la. Tất cả đều chao đảo trong năm 2008. Sẽ rất thú vị đón chờ Interbrand đánh giá chúng năm 2009 còn lại bao nhiêu.

Với các dự báo cụ thể hơn, trường đại học Michigan trong hội thảo Triển vọng kinh tế 2009 cho rằng giá dầu sẽ xoay quanh mức 60 đô-la/thùng trong suốt năm 2009 bởi sự đình trệ kinh tế khắp nơi kéo theo nhu cầu dầu thô giảm, OPEC khó lòng nâng giá dầu lên dù cố gắng cắt giảm sản lượng. Riêng Merrill Lynch trước đây tiên đoán giá dầu 2009 ở mức 90 đô-la/thùng đến đầu tháng 12-2008 lại giảm còn 50 đô-la/thùng.

Với Việt Nam, xu hướng chính của năm 2009 là nỗ lực tìm cách kích thích nền kinh tế trong bối cảnh lạm phát vẫn còn cao (chỉ tiêu của Quốc hội thông qua là CPI tăng dưới 15%). Các cột trụ thu hút ngoại tệ về cho Việt Nam sẽ khó khăn nhiều hơn trong năm 2009 như tăng trưởng xuất khẩu sẽ chậm lại (mức dự báo chính thức là 13%), giải ngân các dự án FDI thấp, doanh thu ngành du lịch giảm… Vì thế những vấn đề của năm 2008 như mất cân đối trong cán cân thanh toán, lạm phát, tỷ giá… vẫn có thể xảy ra nếu không có sự điều chỉnh kịp thời từ chính sách vĩ mô. Chính sách kinh tế trong năm 2009 vì vậy sẽ là sự cân nhắc giữa “kích cầu” và ổn định kinh tế, giữa tạo công ăn việc làm và thâm hụt ngân sách do phải khởi động nhiều dự án hỗ trợ doanh nghiệp.

Với doanh nghiệp, cơ hội và thách thức sẽ khác hẳn năm 2008 vì không còn loại cơ hội làm giàu qua đêm nhờ vào thị trường chứng khoán, tăng vốn chủ sở hữu nhờ phát hành cổ phiếu bất kể giá trị sổ sách. Cơ hội sẽ đến cho những ai tìm hiểu và nắm bắt nhu cầu mới của thị trường thế giới và thách thức càng lớn cho những doanh nghiệp còn mắc kẹt một phần trong các dự án địa ốc không thể triển khai. Việc giới quản lý nhảy từ chỗ làm này sang chỗ làm khác để hưởng mức lương hay mức chia cổ phiếu cao hơn sẽ lắng lại trong năm 2009 khi duy trì việc làm ổn định, gắn bó số phận nghề nghiệp của mình với tương lai doanh nghiệp là xu hướng chủ đạo.

Thursday, December 11, 2008

Khuyen nghi chinh sach: khong de

Khuyến nghị chính sách: Không dễ

Nguyễn Vạn Phú

Phân tích, đánh giá tình hình là một chuyện; đưa ra những lời khuyên cho việc định hình chính sách kinh tế vĩ mô không phải là chuyện đơn giản, nhất là trong bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu dường như chưa có lời giải.

Báo cáo “Huy động và sử dụng vốn” của Ngân hàng Thế giới (WB) phát hành nhân Hội nghị các nhà tài trợ vào đầu tháng 12 tại Hà Nội xác định ngắn gọn nguyên nhân chính của các khó khăn nổi lên trong nền kinh tế Việt Nam vào đầu năm 2008. Lúc đó, dòng vốn dồi dào đổ vào làm tiền đồng lên giá, chống lại sức ép đó có nghĩa phải bơm một lượng tiền khả dụng rất lớn cho nền kinh tế. Kết quả là sự bùng nổ tín dụng ngân hàng, lạm phát tăng cao, và hiện tượng bong bóng bất động sản. Báo cáo cũng dự báo khó khăn của năm 2009 có thể ở hướng ngược lại: luồng vốn đổ vào sẽ giảm đi do các nguồn FDI, xuất khẩu, kiều hối đều giảm.

Tuy nhiên, giải pháp mà báo cáo đưa ra để giải quyết vấn nạn này lại được chính các tác giả cho là không áp dụng được. Báo cáo viết: “Đối với các cơ chế bình ổn ngắn hạn, khuyến nghị chuẩn mực là để tỷ giá danh nghĩa dao động tự do”. Ngay sau đó là những phân tích ngược lại khuyến cáo này: “Những biến động lớn về tỷ giá hối đoái danh nghĩa có thể dẫn đến những hiệu ứng quan trọng liên quan đến dư nợ và có thể dẫn đến phá sản”. Các tác giả còn triển khai ý này bằng các ví dụ rất sống động như để tự giải thích vì sao Việt Nam không thể đi theo lời khuyên này. Không hiểu vì sao có sự tự mâu thuẫn này, phải chăng giữa các tổ chức đóng góp ý kiến cho báo cáo cũng còn khác biệt trong giải pháp khuyến nghị? Bởi không thể nào lý giải sự đối chọi giữa câu trước và câu sau như trong báo cáo: “Một tỷ giá linh hoạt có thể giúp xử lý tình huống và hành động của Việt Nam theo hướng này là rất đáng hoan nghênh” và “Sự linh hoạt về tỷ giá cũng có thể làm trầm trọng thêm tình trạng bất ổn định khi có những luồng vốn lớn ngắn hạn đổ vào hoặc chảy ra”!

Thật ra, các nhà kinh tế trong nước đã từng bàn đến vấn đề này sâu hơn ở góc độ đề nghị điều hành theo tỷ giá thực chứ không phải tỷ giá danh nghĩa. Chẳng hạn, theo Tổng cục Thống kê, 11 tháng đầu năm 2008, giá đô-la Mỹ tăng 5,11% so với tiền đồng trong khi chỉ số giá tiêu dùng của Việt Nam trong 11 tháng đó đã tăng tới 20,71%. Như vậy trong thực tế tiền đồng đang lên giá mạnh so với đô-la Mỹ chứ đâu có mất giá. Còn nếu so với cả một rổ tiền tệ của nhiều nước nữa thì tiền đồng đang lên giá mạnh hơn nhiều.

Nhập siêu là nỗi lo lớn của Việt Nam, nhất là vào khoảng giữa năm 2008 khi con số này tăng vọt. Thế nhưng báo cáo của WB nhận định: “Trong các cuộc tranh luận gần đây, dòng vốn chảy vào đã bị quy kết là nguyên nhân dẫn đến nhập siêu cao. Song, chừng nào nguồn vốn còn được đầu tư vào và đầu tư đúng chỗ thì nhập siêu không còn là vấn đề đáng quan ngại.” Đây là nhận định chính xác nhưng với điều kiện tuân thủ các cụm từ “còn được đầu tư vào” và “đầu tư đúng chỗ”. Nó nguy hiểm ở chỗ người ta chỉ nghĩ WB nói nhập siêu không đáng lo ngại mà không nhớ lại dòng vốn đổ vào lúc đó chủ yếu là vốn nóng dễ quay đầu đi ra và dòng vốn này lại kích thích nhập siêu toàn những loại hàng xa xỉ như ô tô đắt tiền. Nó cũng không tính đến yếu tố nhập siêu lúc đó chủ yếu do giá dầu thô và các loại hàng hóa đều tăng cao ở mức kỷ lục – nếu thế là sao đầu vào đó có thể “chuyển đổi thành mức cung hàng hóa và dịch vụ cao hơn, từ đó dẫn đến xuất khẩu nhiều hơn và nhập khẩu ít đi” như nhận định của báo cáo?

Trong bối cảnh không thể để tỷ giá danh nghĩa dao động tự do, báo cáo nhấn mạnh đến hai cơ chế bình ổn khác là chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa. Chính sách tiền tệ thì báo cáo cũng cho là khó có hiệu quả trong điều kiện tỷ giá không linh hoạt; Việt Nam chưa làm xong công cuộc cải cách tài chính. Chính sách tài khóa trở thành công cụ điều tiết vĩ mô chủ chốt nhưng báo cáo cũng nói “các thiếu sót mang tính thể chế trong lĩnh vực quản lý tài chính công, đặc biệt đầu tư công, làm hạn chế hiệu quả của công cụ này”.

Có lẽ những biến động trong cán cân thanh toán của nhiều nước trên thế giới dưới tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu làm những định chế như WB hay IMF vẫn đang lúng túng tìm lời giải. Do vậy họ khó lòng đưa ra những giải pháp cho những nền kinh tế như Việt Nam nhằm tránh hay giảm bớt những biến động lớn trong ngắn hạn.

Tuy thế, những khuyến nghị mang tính dài hạn của báo cáo lại đáng hoan nghênh vì chúng tô đậm những gì các nhà nghiên cứu trong nước từng đề cập: cải cách hệ thống ngân hàng, trao cho Ngân hàng Nhà nước quyền tự chủ về mặt kỹ thuật để thực hiện các chính sách tiền tệ, xây dựng hệ thống đánh giá tín nhiệm tín dụng, cung cấp thông tin đầy đủ kịp thời cho thị trường, kiểm soát tốt các dự án đầu tư công, không để các tập đoàn kinh tế nhà nước chuyển hướng sang ngành nghề khác xa với ngành nghề kinh doanh chính của họ…

Không thấy ở báo cáo những dạng đề xuất chính sách rất phi chính thống nhưng có thể cần thiết trong giai đoạn hiện nay như các đề xuất của Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam. Chẳng hạn Nhóm Công tác về Sản xuất và Phân phối đề nghị Việt Nam cần xem xét áp dụng các biện pháp kiểm soát tài khoản vốn bởi họ lập luận đầu tư trực tiếp nước ngoài luôn chịu kiểm soát trong khi đầu tư gián tiếp lại không. Bởi vậy họ phát biểu: “Các nhà sản xuất và phân phối ở Việt Nam sẽ không phản đối việc áp dụng kiểm soát vốn hạn chế đối với đầu tư danh mục qua biên giới, như những gì Peru và Chile đã làm”.

Wednesday, December 3, 2008

Nhung cau noi hay trong thang

Những câu nói “hay” trong tháng

Nguyễn Vạn Phú

Nếu có cuộc bình chọn câu nói “hay” nhất trong tháng, tôi sẽ sẵn sàng bỏ phiếu cho phát biểu của một số doanh nghiệp địa ốc được sự hậu thuẫn của một vài “chuyên gia kinh tế” trong tháng 11-2008 rằng “hiện nay có các quỹ: bình ổn giá cả, dự phòng thiên tai, bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội... chẳng dùng vào việc gì, nên huy động để có nguồn tài chính ứng cứu thị trường bất động sản”.

Một mặt, đây là phát biểu rất “thành thật”, cho thấy thị trường kinh doanh bất động sản hiện đang lâm vào tình thế rất khó khăn, có thể tác động xấu đến nhiều lãnh vực khác. Mặt khác, phát biểu này cho thấy rõ một cách suy nghĩ vừa phi thị trường, phi lô-gích, bất kể quy luật, một tâm lý méo mó đằng sau sự phát triển bất thường của ngành kinh doanh nhà đất trong nhiều năm qua.

Có thể nói, kích cho thị trường địa ốc nóng sốt trong một thời gian dài, kéo theo sự tăng giá nhà đất một cách chóng mặt là một trong những nguyên nhân gây bất ổn kinh tế trong những tháng đầu năm 2008. Thời điểm đó, thị trường địa ốc và thị trường chứng khoán có mối liên hệ chặt chẽ, cả hai bơm phồng cho nhau, tạo ra những bong bóng ảo. Sự đông cứng thị trường hiện nay là quá trình trở về bình thường, dĩ nhiên sẽ gây khó khăn cho những ai còn kẹt lại nhưng sao lại đòi chính phủ giải cứu bằng các quỹ, thậm chí còn nêu cụ thể là quỹ… dự phòng thiên tai!

Thị trường địa ốc ở nước ta là một thị trường méo mó vì đầu cơ, vì các mối quan hệ giữa tiền bạc và quyền lực, nơi người ta thi nhau đẩy giá lên rồi tìm đường rút ra, hưởng lợi, ai chạy sau cùng thua lỗ ráng chịu.

Chỉ khi nào nhà phát triển địa ốc tính toán giá bán một căn hộ trung bình bằng khoảng một phần ba thu nhập của một gia đình trung bình trả góp trong vòng 25-30 năm, lúc đó thị trường mới có thể phát triển bền vững và lành mạnh, không cần lấy quỹ… bảo hiểm y tế ra cứu.

Trong tháng qua, một lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước cũng từng tuyên bố với báo chí rằng đã chỉ đạo cho các ngân hàng tiếp tục cho vay địa ốc. Tách biệt nhiệm vụ kinh doanh với nghĩa vụ cung ứng vốn cho các dự án theo chỉ đạo của nhà nước là một bước tiến rất lớn của ngành ngân hàng trong mấy năm qua. Cũng từ đó mới sự ra đời của Ngân hàng Phát triển, Ngân hàng Chính sách… để làm nhiệm vụ cung cấp tín dụng theo yêu cầu của nhà nước. Các ngân hàng thương mại, kể cả ngân hàng thương mại quốc doanh không còn phải làm công việc này nữa. Nay không biết sao lại có một phát biểu “ngược đời” và không thực tế như vậy.

Một câu nói khác, cũng “hay” không kém trong tháng qua là lời “nói dỗi” của lãnh đạo một tập đoàn: “Tôi thấy các tập đoàn cũng của Nhà nước, báo chí cũng của Nhà nước, tại sao báo chí lại đi nói xấu các tập đoàn?”. Ô hay, nói thế chẳng khác nào một cán bộ nhà nước bị thổi phạt vì vi phạm luật giao thông phân bua với cảnh sát giao thông: “Tôi là cán bộ nhà nước, anh cũng là cán bộ nhà nước, sao lại thổi phạt tôi?”.

Báo chí, trong vai trò phản biện xã hội, đã đăng tải những ý kiến của giới nghiên cứu chỉ ra những bất cận trong mô hình tập đoàn kinh tế, đặc biệt là khi những tập đoàn này không lo chuyện sản xuất kinh doanh ngành nghề cốt lõi của mình mà bung ra đầu tư trái ngành vào chứng khoán, địa ốc… Đó là những cảnh báo cần thiết, giúp khối kinh tế nhà nước mạnh lên, sao lại nghĩ đơn giản theo kiểu “nói xấu tập đoàn”.

Những phát biểu như trên cho thấy suy nghĩ dựa vào nhà nước cho mọi quan hệ kinh tế như thời bao cấp vẫn còn phổ biến ở nước ta. Suy nghĩ này càng được củng cố bởi diễn biến khủng hoảng kinh tế toàn cầu đòi hỏi chính phủ các nước phải liên tục đưa ra các chính sách can thiệp mạnh vào thị trường, nhiều lúc trực tiếp đứng ra giải cứu các doanh nghiệp cụ thể. Đúng là tình hình ngày nay làm đảo lộn mọi lô-gích kinh tế thông thường nhưng bản chất của các biện pháp giải cứu ở các nước là khác: họ không phân biệt quốc doanh hay tư nhân, tiền bỏ ra đều phải tính khả năng thu về (như vụ giải cứu tập đoàn tài chính Citigroup, Bộ Tài chính Mỹ có khả năng sau này sẽ lãi to), cứu ngân hàng có nghĩa bảo vệ tiền gởi của người dân, chứ cổ đông ngân hàng và ban lãnh đạo phải chịu thua thiệt nặng… Mục đích sau cùng là ổn định nền kinh tế và không sớm thì muộn sẽ trừng phạt những kẻ đầu cơ, làm giàu bất kể hậu quả xã hội. Không ở đâu có lối suy nghĩ lấy tiền của nơi này ứng cứu nơi kia.

Cuối cùng, xin trích một câu phát biểu tại một buổi tọa đàm được báo chí tường thuật: “Nếu điều hành không tốt, Việt Nam sẽ có nguy cơ vừa giảm phát, vừa lạm phát”. Câu này có nghĩa giá cả nói chung sẽ… vừa tăng vừa giảm, thiệt tình là một hình ảnh khó hình dung nên chẳng biết có nên xếp nó vào loại câu “hay” trong tháng được không.

Monday, December 1, 2008

Le phai va dam duong dau

“Lề phải” và “dám đương đầu”

Quốc Học

Trong khi Bộ trưởng Bộ Truyền thông Thông tin Lê Doãn Hợp từng nói báo chí nên đi đúng “lề đường bên phải” thì tuần trước Tổng thanh tra Chính phủ Trần Văn Truyền lại yêu cầu báo chí khi tham gia phòng chống tham nhũng “phải dám đương đầu”.

Để báo chí làm đúng tôn chỉ mục đích của mình, cần xác định điều quan trọng nhất là báo chí và các cơ quan quản lý báo chí phải làm đúng theo Hiếp pháp và pháp luật, xem đó là cơ sở vững chắc nhất để hoạt động chứ không phải là chuyện “lề phải” hay “dám đương đầu”.

Thật ra, phát biểu của Bộ trưởng Lê Doãn Hợp với báo chí khi ông vừa nhậm chức nằm trong bối cảnh xác định cách quản lý báo chí với một bộ vừa mới được thành lập. Lúc đó ông cho rằng quản lý bằng mệnh lệnh thì báo chí sẽ mất tự do và cho rằng báo chí sẽ hoàn toàn tự do nếu đi đúng lề đường bên phải.

Vấn đề là trong một thế giới biến đổi từng ngày, thế nào là “phải”, thế nào là “trái” không thể dựa vào ý kiến chủ quan của bất kỳ cá nhân hay cơ quan nhà nước nào. Giả thử đầu năm còn ưu tiên phát triển kinh tế, giữa năm ưu tiên chống lạm phát và cuối năm tập trung kích cầu cho nền kinh tế, vậy “phải” hay “trái” ở đây sẽ thay đổi theo từng thời kỳ. Cái mà báo chí cần tuân thủ là pháp luật, cụ thể là các bộ Luật Hình sự, Luật Dân sự, Luật báo chí… còn lại nhà báo sẽ phải chịu trách nhiệm cho những điều mình viết ra và công bố trên báo chí. Từ đó, báo chí mới có thể đăng tải những ý kiến phản biện chính sách, ngỏ hầu tìm ra các giải pháp tốt nhất cho nước nhà trong từng thời điểm cụ thể.

Phát biểu của Tổng Thanh tra Trần Văn Truyền cũng nằm trong bối cảnh việc đưa tin chống tham nhũng được dư luận đánh giá là có chững lại, chính ông cũng nhận xét: “Không thể phủ nhận hiện nay tâm lý một số phóng viên có phần lo ngại”. Thế nhưng để thay đổi tình hình đó, không phải chỉ có thể kêu gọi phóng viên dám đương đầu là đủ. Các cơ quan phòng chống tham nhũng nước ta phải cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời và chính xác cho báo chí và phải có trách nhiệm trả lời báo chí khi có yêu cầu.

Lấy ví dụ vụ ông Huỳnh Ngọc Sĩ, Giám đốc Ban quản lý dự án đại lộ đông - tây và môi trường nước TP.HCM, được cho là có liên quan trong vụ án công ty tư vấn PCI của Nhật khai có hối lộ cho ông này để được trúng thầu nhiều dự án. Giả thử báo chí làm theo cách cũ của nhiều năm trước, khi ông Sĩ chưa bị tòa kết luận có tội hay không, mà đã viết bài cáo buộc theo hướng ông này có nhận hối lộ là chuyện hoàn toàn đáng chê trách vì không chuyên nghiệp. Nhưng im lặng trong một thời gian dài vì thiếu thông tin như mấy tháng trước cũng là biểu hiện báo chí thiếu tin tưởng vào quyền được thông tin của báo chí hay do những ràng buộc khác. Báo chí hoàn toàn có thể và phải được phép điều tra về tài sản công khai của ông Sĩ hay viết quá trình làm việc của ông Sĩ khi cũng đã để xảy ra các sai sót ở những công trình khác. Báo chí phải được quyền tiếp cận với cơ quan quản lý ông Sĩ trực tiếp để truy vấn về quá trình kiểm tra cách gọi thầu, cách giao thầu xem có sơ hở gì có khả năng bị lợi dụng không. Báo chí cũng phải được quyền tiếp cận thông tin để xem chất lượng tư vấn của PCI ảnh hưởng như thế thế nào đến chất lượng công trình. Và theo luật, các quan chức liên quan phải trả lời báo chí vì họ là đại diện cho một nhu cầu của người dân – nhu cầu được thông tin. Cuộc sống của họ đang ngày đêm bị tác động bởi những dự án có sự tham gia của PCI, một hãng có nhân viên bị chính ngay nước họ điều tra, truy tố vì tội hối lộ.

Một nền báo chí chuyên nghiệp không cần được chỉ đâu là lề đường phải đi cũng như không cần phải được khuyến khích “mạnh dạn chống tham nhũng”.

Saturday, November 29, 2008

Tan man chuyen giao duc

Tản mạn chuyện giáo dục

Nguyễn Vạn Phú

+ Đôi lúc lẩn thẩn tự hỏi, giả dụ mình phỏng vấn một người Anh đến Việt Nam xin việc làm, nghe nói rất giỏi tiếng Việt, mình sẽ phỏng vấn như thế nào nhỉ? Chắc sẽ bày đặt ra một vài tình huống để anh này ứng xử bằng tiếng Việt xem sao. Còn kiểm tra bằng giấy, chắc cũng yêu cầu anh này viết một thư ngắn trả lời cho một khiếu nại của khách hàng hay cùng lắm là bắt trả lời một số câu hỏi dựa vào một bài báo tiếng Việt để xem anh ta đọc có hiểu chính xác không.

Trong một tình huống như vậy, có lẽ không ai trong chúng ta nghĩ đến việc bắt người được phỏng vấn xác định đâu là chủ ngữ, đâu là vị ngữ trong một câu tiếng Việt. Không ai bắt anh ta phân tích câu đơn, câu phức hay đổi câu “Tôi đang đói bụng” sang thì quá khứ!

Ấy vậy mà chúng ta đã có thời ra đề kiểm tra trình độ ngoại ngữ của học sinh theo kiểu đó. Hết “chủ động” qua “bị động”, hết “quá khứ hoàn thành” qua “tương lai tiếp diễn”. Nay mặc dù việc soạn đề thi có khá hơn nhưng tâm lý người ra đề, nhất là các đề thi trình độ cao cao một chút, vẫn xoay quanh các kỹ năng về một ngôn ngữ mà ngay chính người bản ngữ cũng chưa biết rành rẽ.

Đề thi nào cũng quanh quẩn các hình thức nhằm bẫy cho thí sinh bị sai hơn là nhằm kiểm tra được khả năng sử dụng ngoại ngữ của họ. Việc dạy và học cũng không khá hơn khi ai nấy chăm chăm vào cái vỏ bọc ngôn ngữ mà không chịu chú ý đến thông tin được chuyển tải. Chẳng lạ gì có một quảng cáo cứ khẳng định “Muốn học giỏi tiếng Anh phải giỏi văn phạm”.

Trong tình huống phỏng vấn nói ở trên, điều chúng ta cần biết là khả năng giao tiếp của anh chàng người Anh khi sử dụng tiếng Việt còn vỏ bọc ngôn ngữ, đặc biệt là cách phát âm, sẽ được chính chúng ta coi là thứ yếu. Chúng ta sẽ thán phục nếu anh này hiểu được những khái niệm mới nảy sinh như “lô-cốt”, biết miêu tả tình huống mới như “kẹt xe, ngập nước” hơn là khi anh chàng này nói thao thao bất tuyệt về vẻ đẹp Vịnh Hạ Long nhờ học thuộc lòng trước một bài văn mẫu nào đó.

Nếu không sớm thay đổi cách nhìn về chuyện dạy, học và kiểm tra các môn ngoại ngữ, trình độ sử dụng ngoại ngữ nói chung của xã hội sẽ tụt hậu và đến một lúc nào đó, người Việt Nam sẽ sử dụng một thứ ngoại ngữ mà chỉ có thế hệ những người lớn tuổi của nước có ngoại ngữ đó hiểu mà thôi.

* * *

+ Một dịp tình cờ, người viết chứng kiến học sinh mẫu giáo ở một nước nói tiếng Anh học về các giác quan. Cô giáo trò chuyện với học sinh, hỏi những câu rất bình thường như nhà em có nuôi chó không, em có thường vuốt ve nó không và kết thúc bằng câu hỏi, vậy đó là giác quan gì. Các em học sinh không những trả lời nhanh chóng dễ dàng mà sau đó còn tự nghĩ ra các tình huống tương tự để đố nhau về các giác quan. Toàn là những từ quen thuộc với lứa tuổi các em.

Bây giờ giả thử chuyển lớp học này sang Việt Nam, ngôn ngữ giảng dạy là tiếng Việt. Các em sẽ bị “choáng váng” vì những từ như “xúc giác, vị giác, khứu giác, thích giác, thị giác”. Các em sẽ không dễ dàng gì liên tưởng chuyện sờ, nếm, ngửi, nghe, thấy với những khái niệm xa lạ này nên khó lòng nhớ và sử dụng chúng cho chính xác.

Và từ đây, người viết cũng lẩn thẩn nghĩ, không biết các khái niệm trong tiếng Việt kiểu như thế có là trở ngại cho việc giảng dạy kiến thức tại nhà trường phổ thông. Chắc là có. Ngay cả các mẫu tự trong các công thức cũng không dính líu gì đến kiến thức đã học trong khi học sinh học bằng tiếng Anh sẽ dễ dàng hiểu và nhớ T là time; V là velocity; S là size… Ví dụ với môn quản trị kinh doanh, sinh viên phải vật lộn với hàng loạt từ mới chưa từng sử dụng trong cuộc sống hàng ngày như “hiện giá”, “tỷ suất hoàn vốn nội bộ”… trong khi ở ngôn ngữ khác như tiếng Anh, chúng là những từ thông dụng hằng ngày.

Chuyện này khó thay đổi. Nhưng điều có thể thay đổi được và cũng là xu hướng truyền đạt kiến thức ở các nước là chú trọng mỗi bài học, nên rút ra, in đậm, nhấn mạnh, giải thích, tập sử dụng một số khái niệm cơ bản để hiểu bài. Hiện nay sách giáo khoa được soạn theo cách trình bày có đầu có đuôi, nói hết mọi điều người soạn sách nghĩ học sinh cần biết nhưng hầu như không có điểm nhấn. Sách trình bày rất đơn điệu, theo kiểu tiết kiệm giấy, không tận dụng các kỹ thuật trình bày đã là chuẩn mực của sách giáo khoa nhằm giúp người học dễ theo dõi, dễ hiểu, dễ nhớ… Thiết nghĩ chuyện cải cách giáo dục cũng phải tính đến các yếu tố này.

* * *

+ Việc phân bổ các môn học trong chương trình phổ thông ở các nước cũng đáng tham khảo. Một học sinh có thể đăng ký học môn Vật lý lúc học lớp 10, đến lớp 11 chuyển qua học Hóa học, năm 12 học Sinh vật, tức là năm nào học xong hết chương trình trung học cho môn ấy, những năm sau khỏi cần học lại. Các môn xã hội cũng vậy, Lịch sử một năm, Địa lý một năm. Với các phân bổ này, học sinh bỗng dư ra một lượng thời gian khá lớn để đăng ký học những môn mà các em thích chọn như Tâm lý học đại cương, Kinh tế học thường thức, Chính trị các nước hay thậm chí những môn nghe có vẽ “ăn chơi” như Tranh luận, Kỹ năng sống, Thời sự, Nấu ăn, Nhiếp ảnh…

Chắc có người sẽ chê, toàn bộ Vật lý cấp ba mà học trong một năm làm sao hết được, chỉ là kiểu cưỡi ngựa xem hoa. Thú thiệt đây là nhận xét, người viết không biết đúng sai nhưng chỉ có điều ở những nước phân môn theo kiểu đó, học sinh có thiên hướng thích học kỹ môn nào đều có thể ghi danh lớp đặc biệt, dành riêng cho những học sinh giỏi, kiểu lớp chọn ở nước ta. Mà suy cho cùng, phân môn kiểu đó như một dạng phân ban không chính thức, học sinh sau này đi theo ngành Kinh tế chẳng hạn, đâu cần học kỹ môn Sinh vật như học sinh sẽ theo ngành Y. Trong bối cảnh chúng ta đang loay hoay giảm tải, loay hoay thí điểm chuyện phân ban, nên nghiên cứu xem cách các nước đang áp dụng có khả thi ở nước ta hay không, sẽ đem lại lợi ích gì và cần cân nhắc những gì – với mục tiêu đào tạo ra những con người biết thích nghi với thời đại đang thay đổi hiện nay.

Thursday, November 27, 2008

Kich cau, nhung kich nhu the nao

Kích cầu – nhưng kích như thế nào?

Nguyễn Vạn Phú

Mỗi khi hoạt động sản xuất kinh doanh rơi vào chỗ đình trệ người ta liền nghĩ đến chuyện kích thích kinh tế mà ở Việt Nam thường được gọi một cách hình tượng “kích cầu”.

Kích thích hoạt động kinh tế thường từ được xem xét từ hai góc độ cung và cầu; biện pháp cũng thường được tính đến từ hai nguồn tài khóa và tiền tệ. Với Việt Nam hiện nay tìm cách kích thích nền kinh tế mà không gây ra lạm phát là một bài toán khó, cần cân nhắc thấu đáo.

Từ tặng tiền đến miễn thuế

Cách kích cầu có tác dụng nhanh nhất là đưa tiền do người dân chi tiêu. Nghe qua tưởng chuyện đùa nhưng đã có nhiều nơi trên thế giới áp dụng cách đó. Tuần trước gói giải pháp kích thích kinh tế của Đài Loan có cả biện pháp cấp phiếu mua hàng cho dân Đài Loan trước Tết Nguyên Đán năm nay, mỗi người được chừng 3.600 Đài tệ (gần 2 triệu đồng). Nếu tất cả mọi người dùng phiếu để mua hàng thì GDP Đài Loan nhờ đó sẽ tăng chừng 0,64% trong năm 2009. Hồi đầu năm Mỹ cũng quyết định “thối lại” tiền thuế cho dân Mỹ, đa số được chừng 600 đô-la mỗi người. Người dân có chi tiêu thì hàng hóa sản xuất ra mới bán được và nhờ đó doanh nghiệp mới hoạt động, công nhân có việc làm và nhà nước lại thu được thuế.
Việt Nam chắc không có chuyện trao tiền mặt như thế nhưng vẫn có thể có những biện pháp gần tương đương như giảm hay miễn thuế VAT trong một thời gian nhất định hay với một số mặt hàng nhất định (nếu miễn thuế VAT trong một thời gian ngắn, rất có thể kích thích người ta đi mua hàng để được giảm giá ngay lúc đó vì sau thời gian miễn thuế giá hàng sẽ trở về như cũ).

Một trong những biện pháp kích thích như thế nhưng có hiệu quả lan tỏa rộng là giảm giá xăng, kể cả giảm thuế nhập khẩu xăng để buộc các công ty kinh doanh xăng dầu giảm giá hơn nữa. Theo tính toán của tờ Wall Street Journal, khi giá xăng giảm từ 147 đô-la/thùng còn 50 đô-la/thùng, toàn bộ nền kinh tế Mỹ nhận được một khoản “trên trời rơi xuống” chừng 250-300 tỷ đô-la mà không cần chi xu nào từ ngân sách. Vấn đề là làm sao thúc đẩy các công ty kinh doanh xăng dầu giảm giá cho đúng với mức giá thực tế của thế giới, đừng để họ lập luận rất trái với quy luật kinh doanh như mua xăng lúc giá cao nên phải bán cho hết mới giảm giá được!

Ở góc độ tăng cung, các biện pháp thường được tiến hành gồm giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, cho khấu trừ chi phí rộng rãi hơn, hỗ trợ doanh nghiệp bằng nhiều biện pháp khác với mục đích là làm sao doanh nghiệp tạo ra nhiều hàng hóa hay dịch vụ hơn. Thuế thu nhập doanh nghiệp được giảm từ 28% còn 25% bắt đầu từ năm 2009 là một khởi đầu tốt. Tuy nhiên, với nền kinh tế có độ mở lớn như Việt Nam, các biện pháp nên hướng đến hỗ trợ tăng kim ngạch xuất khẩu, vừa thúc đẩy được tăng trưởng kinh tế, vừa thu ngoại tệ về nhằm bảo đảm cán cân thanh toán và tạo nhiều công ăn việc làm. Ở đây việc xác định một tỷ giá hối đoán hợp lý là điều cần cân nhắc sớm. Lấy ví dụ ngành du lịch, một dạng xuất khẩu tại chỗ, hiện đang gặp nhiều khó khăn vì khách du lịch chê đến Việt Nam chịu giá phòng, giá tour quá đắt so với các nước khác. Giá phòng khách sạn ở Hàn Quốc chẳng hạn có thể vẫn được giữ nguyên như đầu năm khi tính bằng đồng won nhưng nếu chuyển sang trả bằng đô-la thì giảm đi rất nhiều, cùng với sự sụt giá của đồng won so với đô-la Mỹ, chẳng lạ gì khách sẽ cho là rẻ. Việc xuất khẩu các mặt hàng cũng vậy – một tỷ giá gắn với đồng đô-la đang lên giá mạnh so với nhiều đồng tiền khác trong khu vực đang làm cho hàng Việt Nam mất tính cạnh tranh. Số liệu xuất khẩu trong chiều hướng giảm của mấy tháng gần đây cho thấy điều đó.

Kích cầu đầu tư

Tuy nhiên, tin tức rộ lên khắp các nước liên quan đến các gói giải pháp kích thích nền kinh tế tập trung quanh chuyện kích cầu đầu tư. Trung Quốc gây ngạc nhiên cho toàn thế giới khi công bố gói kích thích tài chính trị giá đến 586 tỷ đô-la đến năm 2010. Cho dù có nhiều phân tích tỏ ý nghi ngờ con số chi tiêu thật sự từ ngân sách nhà nước là bao nhiêu, tuyên bố của Trung Quốc phải chăng là màn PR cho hội nghị G-20 diễn ra sau đó, chắc chắn sẽ có những khoản tiền lớn Trung Quốc sẽ đổ vào việc xây dựng cơ sở hạ tầng, đường sá, cầu cống, trường học, sân bay… nhằm, trước hết tạo công ăn việc làm cho hàng triệu công nhân thất nghiệp sau khi hàng loạt nhà máy phải đóng cửa.

Tổng thống đắc cử Obama cũng cho rằng ưu tiên của ông ngay sau khi nhậm chức là làm sao thông qua gói kích thích kinh tế, trong đó có những dự án hạ tầng như sửa sang hệ thống đường sá, cầu cống đã xuống cấp của Mỹ và xây dựng các cơ sở sản xuất năng lượng thay thế. Bản thân các dự án hạ tầng có độ trễ về hiệu quả nên Obama chú trọng đến loại dự án chỉnh trang, sửa chữa nhằm tạo công ăn việc làm là chính và tăng nhanh thời gian phát huy hiệu quả của dự án. Trong khi Trung Quốc nhấn mạnh đến con số 586 tỷ đô-la, Obama nhấn mạnh con số 2,5 triệu việc làm sẽ được tạo ra trong hai năm tới nhờ gói kích thích này.

Nói đến biện pháp này, nhiều người Việt Nam lo ngại nếu chính sách tài khóa mở rộng, sẽ có khả năng nền kinh tế rơi vào chỗ mất ổn định như những tháng đầu năm. Vấn đề là nếu nóng vội kích cầu đầu tư thông qua các tập đoàn kinh tế nhà nước vì đây là nơi dễ triển khai nhất, dễ dùng mệnh lệnh hành chính nhất, chúng ta sẽ rơi vào bế tắc cũ vì đầu tư thông qua các tập đoàn và tổng công ty đã được chứng minh là kém hiệu quả nhất. Có thể giải quyết mâu thuẩn này, trước hết, bằng cách thúc đẩy giải ngân những dự án ODA đang trì trệ. Đây là những khoản vay đã có sẵn, lãi suất thấp, dự án cũng đã sẵn sàng. Tập trung tháo gỡ những vướng mắc mang tính thủ tục, hành chính hay tệ quan liêu bàn giấy chính là cách kích cầu đầu tư hiệu quả nhất trong tình hình hiện nay.

Đây cũng là dịp triển khai các dự án đầu tư công bị đình trệ vì giá cả nguyên vật liệu xây dựng tăng vọt trong những tháng đầu năm. Tận dụng cơ hội giá cả đang giảm, chúng ta có thể khởi động lại hàng loạt dự án để tạo thêm công ăn việc làm. Vấn đề là thúc đẩy quá trình cải cách để mở rộng cơ hội tham gia cho nhiều công ty từ thành phần kinh tế tư nhân, là nơi có độ linh hoạt cao trong việc tuyển dụng và tính toán chi phí.

Dù sao chuyện được nhiều người quan tâm hiện nay là lãi suất hay nói rộng ra là chính sách tiền tệ hướng đến kích thích kinh tế. Theo chúng tôi, vấn đề không nằm ở lãi suất, nhất là ở Việt Nam khi chi phí cho lãi suất cao hay thấp chưa hẳn đã tác động đến quyết định vay hay không vay của doanh nghiệp. Nếu không có cơ hội, lãi suất thấp chưa hẳn đã kích thích doanh nghiệp vay tiền làm ăn. Vấn đề là khơi thông dòng chảy của đồng vốn từ ngân hàng đến doanh nghiệp. Phải giúp một số ngân hàng lành mạnh hóa tình hình tài chính, tách rời các khoản vay địa ốc, xem chúng như những tài sản xấu cần giải quyết riêng mới mong ngân hàng tiếp tục cho vay sản xuất kinh doanh. Cho đến nay mà Ngân hàng Nhà nước còn phải buộc các ngân hàng thương mại báo cáo lại các con số cho vay địa ốc thì giải pháp chưa thể nào có nhanh được. Nếu hạ lãi suất cơ bản và giảm dự trữ bắt buộc khi chưa làm được chuyện tách bạch này, rất có khả năng ngân hàng sẽ lại đảo nợ địa ốc và bơm lại chiếc bong bóng nguy hiểm này.

Sunday, November 23, 2008

Kinh te... phi thi truong

Kinh tế… phi thị trường

Nguyễn Vạn Phú

Trong khi Việt Nam đi theo nền kinh tế thị trường đã khá lâu, cách suy nghĩ của nhiều nhà quản lý, nhiều chuyên gia kinh tế và thậm chí của một số doanh nhân lại không theo quy luật thị trường chút nào mà chủ yếu theo trực giác bị tác động bởi tư duy kinh tế thời bao cấp.

Lấy ví dụ chuyện lãi suất. Nhiều người cứ nhầm cắt giảm lãi suất cơ bản ở Việt Nam cũng giống kiểu Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) cắt giảm lãi suất. Thật ra, lãi suất Fed thường tuyên bố cắt là lãi suất qua đêm (Fed Fund rate), tức là lãi suất các ngân hàng tính cho nhau khi vay mượn qua đêm các khoản tiền gởi ở Fed để bảo đảm mức dự trữ bắt buộc. Nói chính xác hơn nữa, Fed cũng không quyết định lãi suất mà chỉ đưa ra mức lãi suất muốn hướng đến; sau đó dùng thị trường mở để tác động sao cho lãi suất qua đêm ứng với lãi suất muốn có.

Ở Việt Nam, lãi suất cơ bản là “lãi suất do Ngân hàng Nhà nước công bố làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh”. Nói nôm na, đây là lãi suất tốt nhất do ngân hàng tốt nhất cho khách hàng vay. Bỗng nhiên, sau lần tranh cãi xem có nên sửa đổi Bộ Luật dân sự (“Lãi suất vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng”), lãi suất này tự dưng trở thành mốc để suy ra lãi suất trần. Ví dụ, lãi suất cơ bản vừa được cắt giảm còn 12%, người ta suy ra lãi suất cho vay tối đa sẽ ở mức 18%! Tức là một điều luật nhằm ngăn chận hiện tượng cho vay nặng lãi ngoài xã hội bỗng trở thành yếu tố điều tiết lãi suất của hệ thống ngân hàng chính thống!

Lẽ ra, để giảm lãi suất, Ngân hàng Nhà nước phải dùng các công cụ khác như thị trường mở, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu… còn lãi suất cơ bản chỉ là kết quả hướng đến sau cùng, làm định hướng cho các ngân hàng thấy xu hướng của lãi suất. Lấy lãi suất cơ bản để ấn định trần lãi suất là việc làm trái quy luật thị trường.

Chưa hết, khi lập luận lãi suất cao hay thấp, nhiều người dùng chỉ số lạm phát của tháng 10 hay chỉ số lạm phát từ đầu năm đến nay. Nếu lấy chỉ số tháng 10 (âm 0,19%) ai cũng nói lãi suất quá cao; còn lấy mức từ đầu năm đến nay (23,15%), ai cũng thấy chưa nên giảm lãi suất. Trong khi đó chỉ cần nhớ lại lãi suất thực dương là lãi suất cao hơn mức lạm phát kỳ vọng trong tương lai, việc phải làm trước khi nói lãi suất cao hay thấp là dự đoán cho được mức lạm phát kỳ vọng chứ không phải dùng số liệu đã qua. Quốc hội vừa mới thông qua Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2009, trong đó chỉ số giá tiêu dùng cho năm 2009 dưới 15%. Đấy chính là một trong những mốc có thể lấy để suy xét lãi suất nên ở mức nào để “thực dương”. Và đấy cũng là một chỉ dấu để giải quyết cuộc tranh luận liệu Việt Nam đã rơi vào tình trạng giảm phát, một tranh luận không đáng có bởi những người vội vàng nhìn vào con số âm 0,19% nói trên.

Chính vì không nhìn sự vận hành của nền kinh tế theo quy luật thị trường nên giới quản lý thường muốn phát biểu mang tính trấn an thị trường chứ không phân tích thấu đáo, cặn kẽ rồi để tự thị trường quyết định. Ví dụ, khi Ngân hàng Nhà nước quyết định nới biên độ giao dịch giữa tiền đồng và đô-la Mỹ lên cộng trừ 3% từ mức cộng trừ 2% trước đó, chắc chắn đô-la sẽ lên giá so với tiền đồng. Lẽ ra phải nhấn mạnh đây là bước đi hoàn toàn bình thường trong bối cảnh đô-la Mỹ lên giá mạnh so với hầu hết các đồng tiền khác, một số người lại trấn an một cách không cần thiết rằng tỷ giá không vượt qua mức 17.000 đồng/đô-la. Đến khi tỷ giá lên mức này, lại có người giải thích ấy là do dân buôn lậu vàng gom đô-la! Nếu đứng tách ra một chút người ta dễ thấy rằng tiền đồng, khi gắn với giá trị đồng đô-la, đang lên giá mạnh so với đa số đồng tiền trong khu vực và nhiều nước khác trên thế giới mà chúng ta có quan hệ thương mại và cần phải điều chỉnh ngay để duy trì sức cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu của nước ta. Tính thị trường ở đây là đặt tương quan tiền đồng với một rỗ ngoại tệ chứ không chỉ đô-la Mỹ và cần giải thích một cách sòng phẳng như thế.

Các phát biểu phi thị trường xuất hiện nhiều nhất từ các công ty quốc doanh, từ ngành kinh doanh xăng dầu (chuyện lời lỗ), kinh doanh điện lực (chuyện đầu tư) đến các doanh nghiệp địa ốc (chuyện bơm vốn). Nếu chúng chỉ dừng ở mức phát biểu thì không sao vì người dân họ rất nhạy bén để hiểu đâu là phát biểu có thể làm lạc hướng dư luận. Nhưng nếu chúng trở thành áp lực “vận động hành lang” để tác động lên chính sách thì đó là điều nguy hiểm cho nền kinh tế thị trường đang hình thành và dần bén rễ.

Ngược sáng

 Ngày trước lúc nào cũng nghe khuyên chụp ảnh thì đừng chụp ngược sáng. Có lẽ họ sợ chụp như thế mặt của người mẫu sẽ tối thui. Ngày nay máy...