Tuesday, May 20, 2014

Giàu và nghèo và thế giới phẳng

Giàu và nghèo và thế giới phẳng

Tranh cãi về toàn cầu hóa là cuộc tranh cãi xưa như trái đất mà cho đến nay vẫn chưa có hồi kết; lập luận hai bên ủng hộ và chống đối cũng đều đã rõ. Tuy nhiên, gặp người cổ xúy hết lời cho toàn cầu hóa như Thomas Friedman, tác giả của các cuốn sách bán chạy về toàn cầu hóa như Chiếc Lexus và cây Oliu hay Thế giới phẳng mà không khơi lại cuộc tranh luận này cũng phí đi một cơ hội.

Vậy là tại buổi tọa đàm với Friedman khi ông ghé thăm TPHCM do NXB Trẻ tổ chức vào cuối tuần trước, tôi bèn cố ý “gợi” chuyện: “Tôi đồng ý với ông về mọi điều, thế giới đang ngày càng phẳng hơn, mọi người kết nối với nhau nhiều hơn, ngôi làng toàn cầu đang dần bé lại… nhưng thế rồi sao nữa? Các vấn đề của thế giới như đói nghèo, ô nhiễm, bất bình đẳng vẫn còn đó. Chắc ông đã đọc cuốn Tư bản trong thế kỷ 21 của Thomas Piketty – sách của nhà kinh tế này cho thấy toàn cầu hóa đâu có làm giảm bất bình đẳng trong thu nhập mà thậm chí ngày càng tăng đấy chứ?”

Không hổ danh là một nhà báo lão luyện, Friedman đáp bằng một câu có thể rút thành tít: “Tôi chưa đọc cuốn sách của Piketty nhưng giới cánh tả ở châu Âu và Mỹ dường như chỉ chú tâm làm sao để người giàu nghèo đi chứ không tìm cách sao cho người nghèo giàu lên [cho bình đẳng]”. Ông khẳng định: “Rõ ràng trong hai chục năm qua, hàng triệu triệu người ở các nước đang phát triển đã giàu hẳn lên nhờ vào quá trình toàn cầu hóa”.

“Tôi e rằng không đơn giản như thế”, tôi ngắt lời Friedman. “Đúng là mọi người có giàu lên nhưng mức độ cải thiện cuộc sống đâu có giống nhau. Người có nguồn lực như đất đai, tiền bạc, tài sản khác thì giàu lên nhanh hơn nhiều lần so với công nhân chỉ biết trông chờ vào đồng lương”.


Friedman cũng lịch sự đáp trả: “Thật sự phải nói tôi không đồng ý về điều đó”. Và ông bắt đầu kể về con đường phát triển kinh tế của Ấn Độ và Trung Quốc. Ông dùng lại hình ảnh các bức tường ngăn trở, và những đột phá công nghệ đã giúp phá vỡ những bức tường này như thế nào, đã giúp các nước này biến đổi ra sao, kể cả cạnh tranh với các nước phát triển... Ông cho rằng lập luận của Piketty chỉ tập trung vào các nước phát triển ở châu Âu hay Mỹ, rằng có thể dữ liệu của cuốn sách là đúng nhưng hầu như không thấy Piketty nói gì về vai trò của công nghệ, xem như công nghệ không tồn tại, không có vai trò gì trong việc giảm bất bình đẳng!

Friedman kể cánh tả Ấn Độ từng phê phán ông và cuốn sách Thế giới phẳng rằng Friedman chỉ đến gặp vài ba người giàu lên ở Ấn Độ nhờ công nghệ thông tin mà dám tuyên bố thế giới phẳng; họ bảo còn cả hàng triệu triệu người Ấn Độ nghèo khổ kia kìa, sao không nói đến. “Tôi mới bảo, ồ, thế à, cám ơn đã cho tôi biết điều đó!” – Friedman mỉa mai, với ý người nghèo thì đã tồn tại ở Ấn Độ hàng ngàn năm nay rồi, cái điểm mới mà ông muốn miêu tả là sự biến đổi nhờ công nghệ, nhờ toàn cầu hóa tác động lên một phần dân số Ấn Độ - đó là tin, đó là điểm mới mà ông muốn miêu tả trong cuốn sách của mình.

“Tôi phải thú thiệt tôi không phải là con người của số liệu, tôi chỉ là nhà báo. Tôi không biết hết mọi chuyện, tôi không phải là người lập thuyết. Tôi chỉ biết những gì mình tường thuật. Và điều tôi muốn tường thuật là những biến đổi xảy ra nhờ việc kết nối thế giới theo một cách hoàn toàn mới mẻ, chưa từng có”, ông nói và nhắc lại lập luận cho rằng những người nói về bất bình đẳng chỉ muốn làm người giàu nghèo đi chứ không phải là giúp người nghèo giàu lên.

Tôi vẫn chưa chịu bỏ cuộc. “Một trong những nạn nhân rõ nhất của công nghệ kết nối như ông nói là báo in. Số lượng phát hành các báo giảm, báo mạng chưa tìm ra phương thức cân đối thu chi. Người ta cũng đánh mất thói quen đọc sâu, đa phần chỉ thích đọc lướt và chọn đọc tin giải trí rẻ tiền. Ông nghĩ sao về mặt trái này?”

Có lẽ với nhà báo khác, tình cảnh này đã rõ và sẽ nhận được sự đồng tình nhưng với Friedman thì hơi khác. “Báo tôi [New York Times] bắt người đọc trả tiền và có đến 800.000 người trả tiền để đọc báo mạng. Nếu ta có nội dung hay mà bạn đọc muốn thì họ sẽ trả tiền để đọc thôi. Năm năm nữa báo giấy sẽ như thế nào, tôi không biết. Nhưng giờ đây bạn có thể bắt độc giả trả nhiều tiền hơn để đọc báo giấy [với chất lượng cao hơn]”.

Friedman cũng khuyên dùng chiêu dĩ độc trị độc, cứ đăng tin “hở hang hấp dẫn” để thu hút người đọc rồi đăng cả tin nghiêm túc kèm bên, một sự kết hợp mà nhiều báo đang dùng.

Nói là nói vậy thôi, khó khăn của làng báo in là chuyện khó giải quyết bởi ngay chính ở New York Times, gia đình Ochs-Sulzberger đang sở hữu tờ báo này cũng phải dùng nhiều biện pháp để tồn tại như, theo lời Friedman kể, không nhận lương hay phải vay tiền của Carlos Slim, trùm viễn thông Mexico, từng là người giàu nhất thế giới.

Vì vậy,  cú “gợi” chuyện sau cùng của tôi là “sự tự nguyện – free will”: “Nói cho cùng, tôi đâu muốn phải đăng tin bikini hấp dẫn để người ta đọc kèm với tin nghiêm túc; anh nông dân đâu muốn phải cạnh tranh với một người trồng lúa đâu tận bên kia bán cầu; người dân đâu muốn đánh đổi một nhà máy dù hoành tráng bằng nạn ô nhiễm. Toàn cầu hóa không cho người ta sự chọn lựa!”.

“Đây là vấn đề quá lớn” – Thomas Friedman cười nói và kết thúc câu chuyện. Đã bảo tranh cãi về toàn cầu hóa là câu chuyện chưa có hồi kết!


Saturday, May 3, 2014

Điểm cuốn Capital

1% sẽ ăn hết của 99%

Nếu trong giới kinh tế học mà cũng có ngôi sao như trong giới điện ảnh, ca hát thì Thomas Piketty ắt sẽ là ngôi sao mới nổi, đang được đón chào chẳng kém diễn viên Brad Pitt. Cuốn sách vừa xuất bản bằng tiếng Anh của ông, “Capital in the Twenty-first Century – Tư bản trong thế kỷ 21” tuần trước lọt vào danh sách sách bán chạy nhất của tờ New York Times. Nhà kinh tế học đoạt giải Nobel Paul Krugman cho rằng cuốn sách của Piketty sẽ “thay đổi cả cách chúng ta suy nghĩ về xã hội và cách chúng ta nghiên cứu kinh tế học”.

Chủ đề cuốn sách đang gây xôn xao dư luận này là bất bình đẳng trong thu nhập, một chủ đề quen thuộc, từng được đề cập trong hàng ngàn cuốn sách hay hàng ngàn bài viết trước đây. Thế nhưng vì sao sách của Thomas Piketty lại trở thành hiện tượng?

Trước tiên phải nói ngay sự bất bình đẳng trong thu nhập mà tác giả đề cập chủ yếu không xoay quanh chuyện lương các CEO cao gấp mấy trăm lần lương công nhân (có nhưng không phải là điểm chính). Sự bất bình đẳng này thể hiện giữa hai xu hướng: thu nhập từ tư bản, có tốc độ tăng cao hơn nhiều so với thu nhập từ sức lao động, thường thấp hơn tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế.

Lương của Bill Gates nay có thể không là bao nhiêu cả khi không còn làm cho Microsoft nhưng so với năm ngoái, tài sản của ông năm nay đã tăng thêm 9 tỷ đô-la, lên 76 tỷ đô-la Mỹ. Mức tăng ấy đến từ lợi tức tư bản mà dân gian chúng ta thường nói “tiền đẻ ra tiền”. Mức tăng này cao hơn nhiều so với mức tăng GDP của nước Mỹ - điều đó có nghĩa, dù không muốn nhưng Bill Gates sẽ tiếp tục ngày càng giàu, trong khi đại đa số dân Mỹ thấy thu nhập hầu như không tăng. Vì vậy khoảng cách giàu nghèo giữa Bill Gates và những người có thu nhập từ tư bản như ông và những người làm công ăn lương sẽ ngày càng dãn ra, dãn dần ra đến một tỷ lệ không tưởng nổi.

Đó chính là lập luận chính của cuốn sách “Tư bản trong thế kỷ 21”. Tư bản, theo định nghĩa của Piketty gồm tất cả những tài sản mà người ta có thể sở hữu và mua bán trên thị trường, như bất động sản, vốn trong doanh nghiệp, máy móc, nhà xưởng, kể cả tài sản sở hữu trí tuệ. Tư bản tạo ra thu nhập và theo Piketty, hiện nay ở các nước phát triển, thu nhập từ tư bản vào khoảng 4-5%/năm.

Trong khi đó tốc độ tăng trưởng thu nhập quốc dân của các nước này chỉ vào khoảng 1-2%/năm.

Điều gì sẽ xảy ra nếu hai tốc độ chênh lệch nhau này cứ thế tiếp diễn trong suốt thế kỷ 21 này? Chắc chắn sẽ đến lúc những người nắm tư bản trong tay sẽ chiếm gần hết thu nhập của một nước trong khi những người còn lại, tức chỉ biết dùng sức lao động để tạo ra thu nhập, sẽ phải chia miếng bánh ngày càng nhỏ đi. Cuối cùng thế giới sẽ quay trở lại hình ảnh của châu Âu vào thế kỷ 19 khi giới thượng lưu không làm gì cả, chỉ biết hưởng lợi tức trên điền trang như trong các cuốn tiểu thuyết cổ điển và giới lao động bình dân luôn sống trong chật vật nghèo khó.

Lập luận này đi ngược lại những gì kinh tế học lâu nay thường giả định, rằng kinh tế thị trường sẽ làm cho bất bình đẳng trong thu nhập ngày càng nhỏ lại nhưng Piketty thuyết phục được nhiều người nhờ khối lượng dữ liệu khổng lồ trải dài suốt mấy trăm năm mà ông từng thu thập, phân tích để viết cuốn sách. Ví dụ ông cho rằng giai đoạn nửa đầu thế kỷ 20, sự bất bình đẳng không rõ nét lắm là bởi tư bản hay sản nghiệp của nhiều người đã bị hủy diệt qua hai cuộc đại thế chiến, qua những cơn khủng hoảng và chỉ mới tích lũy lên lại mức xưa vào nửa cuối thế kỷ 20.

Điều gây ấn tượng trong lập luận của tác giả là: nền kinh tế càng rơi vào trì trệ, tốc độ tăng trưởng kinh tế càng giảm thì sự bất bình đẳng trong thu nhập càng cao (vì chênh lệch giữa thu nhập từ tư bản và thu nhập từ lao động càng cách biệt).

Thomas Piketty năm nay mới 42 tuổi, sinh trưởng ở Pháp. Năm 22 tuổi ông đã lấy xong bằng tiến sĩ kinh tế và được ba trường danh tiếng của Mỹ gồm MIT, Harvard và Đại học Chicago mời sang dạy. Ông chọn MIT nhưng chỉ dạy ở đây 2 năm rồi quay về Pháp và bỏ hết thời gian để nghiên cứu dữ liệu liên quan đến bất bình đẳng trong thu nhập của hàng chục nước trên thế giới.

Đương nhiên khi vẽ nên bức tranh của kinh tế thế giới đang đi vào chỗ bế tắc như thế, tác giả đưa ra những đề nghị táo bạo: đánh thuế lên tư bản để giảm bất bình đẳng. Đây là điểm yếu của cuốn sách vì đa phần đều cho là tác giả “ngây thơ về chính trị” – không ai dại gì đánh thuế lên tư bản vì nó sẽ chạy sang nước khác; một sắc thuế toàn cầu lại càng bất khả thi hơn.

Hiện nay đa phần lời bình khi điểm cuốn này là sự khen ngợi. Tuy nhiên, phải nói ngay cuốn sách được viết theo dạng nhắm đến độc giả không chuyên về kinh tế nên khá dài dòng, lập đi lập lại một cách không cần thiết. Bức tranh toàn cảnh mà tác giả đưa ra trải dài qua nhiều thế kỷ, qua nhiều nước nên giúp độc giả có được cái nhìn rất toàn diện, tỉnh táo, không bị tác động bởi các yếu tố chính trị, chiến tranh hay xung đột “nóng lạnh”. Nhưng cũng chính vì phải phân tích những chuỗi dữ liệu lớn như thế nên sách đôi lúc mang tính kỹ thuật, khá khô khan. Tác giả đã cố gắng cân bằng trở lại bằng cách dùng các cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của Jane Austen, Balzac hay Henry James làm dữ liệu sống để minh họa cho số liệu thời đó.

Điều chắc chắn là cuốn sách của Thomas Piketty sẽ còn được bàn tán nhiều trong năm nay; các nhà làm chính sách ắt sẽ đọc kỹ và rất có thể những phân tích trong cuốn sách sẽ tác động đến một số chính sách trong tương lai. Biết đâu một số nước phương Tây sẽ nới lỏng thêm chuyện nhập cư vì Piketty cho rằng gia tăng dân số cũng là một trong những phương cách giảm bất bình đẳng trong thu nhập.




Quote:
“Tôi tin vào sở hữu tư nhân. Nhưng chủ nghĩa tư bản và thị trường phải là nô lệ cho nền dân chủ chứ không phải ngược lại” – Thomas Piketty.


Box:
Trong cuốn “Tư bản trong thế kỷ 21”, Thomas Piketty đưa ra hai “quy luật cơ bản của chủ nghĩa tư bản”. Thứ nhất, ở các nước phát triển tổng giá trị tư bản của nền kinh tế so với tổng thu nhập quốc dân hàng năm thường ở mức 5 đến 6 lần. Ví dụ ở các nước như Pháp, Anh, Đức, Ý, Mỹ, Nhật Bản, thu nhập quốc dân đầu người chừng 30.000 đến 35.000 euro/năm, còn tổng sản nghiệp đầu người (tức tư bản) chừng 150.000 đến 200.000 euro.
Từ đó, Piketty đưa ra quy luật đầu tiên, nếu tổng tư bản bằng sáu năm tổng thu nhập quốc dân và nếu tỷ lệ thu nhập từ tư bản là 5% thì phần chia cho tư bản từ thu nhập quốc dân là 30%.
Quy luật thứ hai, chỉ đúng trong dài hạn, cho rằng tỷ lệ tiết kiệm càng cao và tốc độ tăng trưởng càng thấp thì tỷ lệ tư bản trên thu nhập quốc dân càng cao. Nói cách khác giả thử một nước tiết kiệm 8% thu nhập và GDP hàng năm tăng 2% thì về lâu về dài nước này sẽ tích lũy một khoản tư bản bằng 4 năm tổng thu nhập quốc dân hàng năm. Nhưng nếu GDP chỉ tăng 1%/năm thì sau một thời gian, tỷ lệ tư bản trên thu nhập quốc dân này sẽ là 8 lần chứ không còn là 4 lần nữa.



Thế nào là ít, bao nhiêu là nhiều?

Thế nào là ít, bao nhiêu là nhiều?

Hai sự kiện mới nhìn tưởng chừng trái ngược nhau: một bên (Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch) khăng khăng kinh phí tổ chức ASIAD 18 chỉ có 150 triệu đô-la, một bên (Bộ Giáo dục - Đào tạo) bung ra kinh phí đổi mới chương trình và biên soạn sách giáo khoa lên đến trên 34.000 tỉ đồng. Cả hai đều bị dư luận phản đối.

Rõ ràng vấn đề không phải là con số kinh phí nhiều hay ít; vấn đề là các cơ quan nhà nước dường như không ý thức được ý nghĩa của các con số, cứ tung ra cho dư luận mà không lường hết tác dụng của chúng.

150 triệu đô-la để tổ chức ASIAD 18 là quá ít vì cơ quan tung con số này ra đã cố ý không tính đến phần kinh phí mà các địa phương phải chi cho sự kiện thể thao này cũng như bỏ lơ phần kinh phí xã hội hóa lớn hơn nhiều lần (lên đến 12.000 tỉ đồng).

Chính vì thế trong thông báo quyết định không đăng cai ASIAD 18, Văn phòng Chính phủ đã thông báo phân tích rất chính xác của lãnh đạo Chính phủ: “...việc đầu tư xây dựng mới các hạng mục công trình phải có để phục vụ cho ASIAD 18 theo hình thức xã hội hóa như: sân đua xe đạp lòng chảo, làng vận động viên, khu thi đấu đua ngựa và 5 môn phối hợp… cũng như dự kiến nguồn thu từ ASIAD để bổ sung cho kinh phí tổ chức là chưa có cơ sở chắc chắc và rất khó đảm bảo”.

Ngược lại, trên 34.000 tỉ đồng phục vụ việc thay sách giáo khoa là quá nhiều vì cơ quan tung ra con số này đã đưa vào đây những phần việc không liên quan trực tiếp đến nội dung chính.

Trong giải trình mới nhất, kinh phí biên soạn sách giáo khoa chỉ còn lại 105 tỉ đồng; các khoản lớn nhất, chiếm gần hết kinh phí như trên 20.000 tỉ đồng là để mua sắm trang thiết bị dạy học, 5.000 tỉ đồng là chi cho ứng dụng công nghệ thông tin và xây dựng kênh truyền thông giáo dục...

Bộ Giáo dục - Đào tạo, khi đưa ra các con số kinh phí này cũng không nói rõ đường đi nước bước của dòng tiền dành cho ngành giáo dục hàng năm nên gây hiểu nhầm, ngân sách lấy đâu ra khoản tiền lớn như thế trong bối cảnh bội chi, giảm thu?

Thật ra, ngân sách trung ương và ngân sách địa phương dành cho giáo dục đã định hình hàng năm, các khoản chi để bồi dưỡng giáo viên theo chương trình và sách giáo khoa mới hay để mua sắm trang thiết bị là lấy từ nguồn ngân sách này. Vấn đề chỉ là ưu tiên chuyện này thì giảm chuyện khác; đó là sự chọn lựa của ngành giáo dục mà thôi.

Nếu nhìn như thế thì con số 105 tỉ để biên soạn chương trình, biên soạn sách giáo khoa là quá ít. Cho dù tốn nhiều hơn chừng đó mà Việt Nam có một chương trình giáo dục phổ thông hoàn chỉnh để từ đó đổi mới giáo dục làm cho ngành giáo dục đào tạo được những con người sẵn sàng cho bậc học cao hơn hay tham gia được ngay vào nền kinh tế là điều đáng mừng.  

Lấy ví dụ, trong ước thực hiện thu chi ngân sách năm 2013 do Bộ Tài chính công bố, chi cho giáo dục - đào tạo, dạy nghề lên đến 167.992 tỉ đồng, chiếm 18% tổng chi ngân sách. Đề án xây dựng chương trình, biên soạn sách giáo khoa kéo dài trong nhiều năm tài chính, tức kinh phí biên soạn sẽ được phân bổ đều trong một vài năm. Vậy tổng kinh phí 105 tỉ đồng đâu có là bao nhiêu so với 167.992 tỉ đồng hay gấp hai gấp ba lần con số này?

Vấn đề là kế hoạch xây dựng chương trình có thật sự đổi mới chưa, có giải quyết được những vấn đề xã hội đặt ra lâu nay chưa, có thật sự tạo ra sự chuyển biến cho ngành giáo dục chưa? Nếu có thì ngân sách gấp vài lần cũng hoàn toàn xứng đáng; nếu chưa thì chỉ một phần kinh phí này cũng đã là lãng phí.

Cho đến bao giờ các quan chức nhà nước sử dụng các nguyên tắc tài chính, kinh tế vào quản lý hay ít ra vào việc truyền đạt chính sách hay đề án đến với công luận để dư luận không bị hút vào những tranh luận chưa cần có mà bỏ quên những tranh luận cần thiết hơn nhiều.




Cá nhân soạn sách giáo khoa?

Cá nhân soạn sách giáo khoa?

Nếu tạm thời gạt bỏ chuyện tiền bạc sang một bên thì nội dung quan trọng nhất của đề án “Đổi mới chương trình và sách giáo khoa” của Bộ Giáo dục - Đào tạo nằm ở chỗ “khuyến khích các tổ chức, cá nhân biên soạn các bộ sách giáo khoa hoặc các cuốn sách giáo khoa khác”. Tuy nhiên vấn đề là Bộ có thật sự muốn điều này và dùng chủ trương này để tạo ra sự đột phá trong biên soạn sách giáo khoa hay không.

Đề án, được dư luận quan tâm vì gắn với khoản tiền trên 34.000 tỷ đồng, thật ra bao quát một số phần việc chính gồm xây dựng chương trình giáo dục phổ thông; biên soạn bộ sách giáo khoa sau năm 2015; thử nghiệm, đánh giá chương trình, sách giáo khoa mới và cuối cùng là triển khai thực hiện trên toàn quốc.

Như vậy mấu chốt của đề án phải là việc xây dựng chương trình giáo dục phổ thông, tích hợp vào đây tất cả những mong muốn đổi mới, cải tiến, chọn lựa nội dung cần giảng dạy, kể cả thể hiện những khái niệm khá mơ hồ mà đề án đưa ra như “dạy học tích hợp” hay “dạy học phân hóa”. Đây rõ ràng là phần việc của Bộ và chiếm vị trí quan trọng nhất của đề án. Nó phải được xem như bản vẽ chi tiết của nhà kiến trúc sư muốn xây dựng nền giáo dục nước nhà đi theo hướng nào, đi theo con đường nào… Ở đây, mong muốn “dạy chữ” hay “dạy người” sẽ được thể hiện, làm sao dạy cho học sinh ứng xử với một thế giới đang thay đổi nhanh chóng sẽ được đặt ra, làm sao để bắt kịp với tư duy của thời đại mới được nhấn mạnh…

Các phần việc sau, kể cả biên soạn sách giáo khoa dựa trên chương trình nói trên, nên giao cho xã hội; Bộ không nên can thiệp và tham gia làm gì. Bởi vì mặc dù đề án khẳng định “từ chương trình quốc gia có thể có nhiều bộ sách giáo khoa hoặc cuốn sách giáo khoa khác nhau để đáp ứng tính đa dạng vùng miền và đặc điểm nhận thức của các đối tượng khác nhau”, Bộ lại giành cho mình vai trò trung tâm: “Bộ Giáo dục và Đào tạo biên soạn đủ một bộ sách giáo khoa”.

Thử hỏi một khi Bộ đã bỏ công biên soạn một bộ sách giáo khoa rồi thì cá nhân, tổ chức nào có thể cạnh tranh nổi với Bộ. Thử hỏi khi đặt ra yêu cầu như trong đề án (“Tất cả sách giáo khoa phải được Bộ Giáo dục và Đào tạo thẩm định, phê duyệt trước khi sử dụng trong các cơ sở giáo dục phổ thông”) thì làm sao duy trì được sự công bằng, khách quan trong thẩm định và phê duyệt.

Ở đa số các nước mà chúng ta quan sát được, cơ quan quản lý giáo dục chỉ đề ra chương trình khung hay mục tiêu giáo dục nói chung; việc biên soạn sách giáo khoa giao cho xã hội tự lo với nhau. Sự cạnh tranh để được thầy cô giáo và học sinh chọn để sử dụng buộc các nhà xuất bản phải cho ra đời các bộ sách giáo khoa ngày càng được cải thiện về chất lượng nội dung và hình thức.

Một khi đã có chương trình quốc gia rồi và một khi chương trình đã được sự đồng thuận của xã hội sau khi có sự “trưng cầu ý kiến” như đề án nói thì việc biên soạn sách giáo khoa chỉ là công đoạn “xây nhà dựa trên bản vẽ thiết kế đã có”. Nhất là khi Bộ đã “công khai các yêu cầu, tiêu chí đánh giá sách giáo khoa để làm căn cứ cho việc biên soạn, thẩm định, phê duyệt và sử dụng sách giáo khoa” thì không việc gì lo ngại sách “chệch hướng”, sách không đạt chất lượng, sách biên soạn cẩu thả… Việc biên soạn sách lúc đó sẽ giúp Bộ giải quyết một số vấn đề vướng mắc lớn của ngành giáo dục hiện nay.

Lấy một ví dụ về chuyện học thêm. Học sinh hiện đi học thêm vì nhiều lý do mà một trong những lý do có thể là các em đánh mất khả năng tự học vì sách giáo khoa quá sơ sài, không thể tự học, tự mày mò như ngày xưa. Nay nếu có những bộ sách biên soạn như sách giáo khoa nước ngoài, có nghĩa là dày gấp đôi gấp ba lần sách hiện nay, trình bày đầy đủ, minh họa rõ ràng để tự học sinh nếu bỏ công sức ra cũng có thể tự học thì chuyện học thêm sẽ giảm đi nhanh chóng.

Việc để cho cá nhân tham gia viết sách giáo khoa, có nhiều bộ sách giáo khoa tốt, đầy đủ, dày dặn và các trường có quyền lựa chọn sách phù hợp cho học sinh, còn là một cách hạn chế sách tham khảo tràn lan, chất lượng bát nháo như hiện nay nữa.

Với thị trường to lớn của sách giáo khoa chắc chắn sẽ có những nơi sẵn sàng đầu tư để biên soạn sách một cách công phu vì khả năng thu hồi vốn đầu tư là cao. Nhưng nếu Bộ vẫn giành quyền biên soạn thì không ai dám liều lĩnh bỏ công sức biên soạn sách mà chưa biết có được sử dụng hay không.

Đề án được viết theo kiểu cũ, cứ ôm hết mọi phần việc cho Bộ lo nên số tiền cần có để triển khai đề án lên đến trên 34.000 tỷ đồng, kể cả những đầu việc mênh mang mà việc triển khai không có gì bảo đảm đúng hạn, đúng chất lượng. Có thể tính theo cách thức mà Bộ quen làm lâu nay, ví dụ tập huấn cho hàng trăm ngàn lượt người nhân cho số ngày nhân cho định mức được Bộ Tài chính duyệt thì sẽ ra những con số khổng lồ đó thật.

Nhưng nếu làm theo cách mới, vấn đề kinh phí không còn là chuyện lớn. Phần việc quan trọng nhất là xây dựng chương trình, cái đó thật sự cần kinh phí nhưng chỉ là một phần rất nhỏ so với 34.000 tỷ đồng. Các phần việc sau như biên soạn sách giáo khoa giao cho xã hội lo; chuyện đào tạo lại giáo viên để có thể dạy theo chương trình mới là công việc thường xuyên của nhà trường và cũng phải để giáo viên tự lo. Bộ chỉ là nơi đưa ra các tiêu chí và giám sát thực hiện tiêu chí. Nếu xem chương trình và sách giáo khoa là “dạy cái gì” thì phần triển khai “dạy như thế nào” thiết nghĩ nên trao quyền cho nhà trường và giáo viên để họ có thể thật sự tìm tòi sáng tạo và áp dụng những phương thức truyền đạt kiến thức tốt nhất, không còn những nổi lo phi lý như “cháy giáo án”.

Nếu nhìn theo góc độ đó thì đề án thật sự là sơ sài, phần quan trọng là xây dựng chương trình giáo dục quốc gia chưa hình thành rõ nét; phần biên soạn sách giáo khoa quá chú trọng các vấn đề hình thức như thử nghiệm, đánh giá, lộ trình; phần triển khai khá máy móc theo một lộ trình chủ quan. Thiết nghĩ yêu cầu của các đại biểu Quốc hội bắt Bộ Giáo dục – Đào tạo soạn lại đề án trước khi dựa vào đó ra Nghị quyết là yêu cầu xác đáng.

Box

Đề án này bỏ quên đề án ngoại ngữ quốc gia 2020

Một điều đáng ngạc nhiên là trong khi hiện nay Bộ GD-ĐT đang ráo riết triển khai đề án ngoại ngữ quốc gia 2020 với những bước đi như giúp giáo viên đạt chuẩn châu Âu cũng như triển khai cách khảo sát trình độ học sinh theo các chuẩn quốc tế thì đề án này không có dòng nào về việc này.

Lẽ ra một khi đã xác định chương trình khung về ngoại ngữ cho giáo dục phổ thông cũng như các chuẩn mà học sinh các cấp phải đạt được thì chương trình dành riêng cho bộ môn ngoại ngữ, kể cả sách giáo khoa đã được giải quyết xong. Điều này lẽ ra phải được thể hiện trong đề án “Đổi mới chương trình và sách giáo khoa” để tránh sự trùng lắp, lãng phí.


Coi chừng nhầm rừng với cây

Coi chừng nhầm rừng với cây

Vì sao dữ liệu lớn (big data) bỗng trở thành một câu chuyện thời thượng? Và vì sao nay lại có những lời phản bác dữ liệu lớn theo kiểu quay ngoắt 180 độ? Cái quan trọng hơn dữ liệu là gì?

Thành phố Boston một hôm bỗng nảy ra một ý tưởng xuất sắc: viết một phần mềm cho điện thoại di động thông minh, kêu gọi người dân cài đặt, bất kỳ khi nào họ lái xe qua một ổ gà, ổ voi, máy sẽ ghi nhận cú nhún đột ngột. Hàng ngày, hàng chục ngàn dòng dữ liệu như thế chảy về một trung tâm xử lý sẽ giúp Boston biết ngay đường phố nào đang hư hỏng, mức độ nặng hay nhẹ để cho người đi sửa chữa ngay.

Đó là một ví dụ trong đời thường về dữ liệu lớn và những gì nó có thể làm được. Thử tưởng tượng trước đây làm sao có cách nào có được thông tin đầy đủ về tình trạng sức khỏe đường sá một thành phố lớn theo thời gian thật như thế.

Dữ liệu lớn ở khắp nơi

Chỉ trong mấy năm gần đây, dữ liệu lớn hay nói đúng ra, cách khai thác những luồng dữ liệu khổng lồ để tìm ra những xu hướng, những bức tranh tổng thể, những lớp thông tin nằm bên dưới... đã trở thành một lãnh vực phát triển nhanh chóng đến mức kỳ diệu. Hăm hở nhất là doanh nghiệp: họ cứ tưởng giờ đây họ đã hiểu khách hàng tận chân tơ kẻ tóc; dùng dữ liệu mà các gã khổng lồ như Google thu lượm hàng ngày hàng giờ, doanh nghiệp có thể nhắm ngay trúng đích người đang cần sản phẩm hay dịch vụ của mình. Thực tế đã có những câu chuyện nghe như khoa học viễn tưởng: bạn viết email hỏi người bạn ở Đà Nẵng khách sạn nào là tốt nhất để ở mấy ngày cuối tuần, chưa thấy ai trả lời thì Google đã cho hiện lên thông tin về đúng loại khách sạn bạn tìm. Từ kho dữ liệu lớn công cộng, một tờ báo biết ngay độc giả tuổi teen của họ đang tìm kiếm những từ khóa gì và tổ chức bài vở đúng y sở thích của những độc giả tiềm năng này.


Có một câu chuyện minh họa cho dữ liệu lớn, không biết là chuyện thiệt hay bịa. Dân tình đồn đoán chuỗi siêu thị Target là nơi sử dụng dữ liệu lớn thành công hơn cả. Một hôm một người đàn ông giận dữ xông vào văn phòng Target ở Minneapolis, la mắng ban giám đốc vì sao cho người gởi tài liệu giới thiệu quần áo trẻ em và tả lót cho con gái ổng trong khi cô này đang còn tuổi đi học. Giám đốc hết lời phân bua và xin lỗi vì có lẽ máy tính nhầm lẫn gì chăng. Bất ngờ thay một tuần sau ông bố mới thật sự biết cô con gái tuổi teen của ông vừa mới mang bầu. Target biết trước ổng do phân tích đúng mọi dữ liệu thu thập được từ thói quen mua sắm của cô này.

Sự đời hóa ra không đơn giản

Mọi việc đang diễn tiến tốt đẹp cho ngành khai thác dữ liệu lớn như thế bỗng trong tháng gần đây, hàng loạt các tờ báo lớn trên thế giới cùng nhau lên tiếng phê phán việc quá coi trọng dữ liệu lớn.

Tờ New York Times liệt kê tám, chín điều “băn khoăn” về dữ liệu lớn. Ví dụ mối tương quan giữa các dữ liệu có thật tương quan không (Từ 2006 đến 2011, tỷ lệ sát nhân và tỷ lệ sử dụng Internet Explorer có mối tương quan rất rõ: cả hai đều giảm mạnh; hay từ 1998 đến 2007 số lượng ca bệnh tự kỷ được phát hiện tăng nhanh y như mức tăng doanh số hàng thực phẩm hữu cơ. Nhưng có ai dám kết luận mối quan hệ nhân quả nào ở đây chăng!)

Hay con người rất dễ đánh lừa các phần mềm dựa vào dữ liệu lớn. Các chương trình thử nghiệm chấm điểm bài luận sinh viên thường dựa vào các yếu tố như độ dài của câu, sự xuất hiện các từ khó, từ thể hiện độ chín của tư duy... Thế là sinh viên cứ cố tình viết câu cho dài, cứ lâu lâu lại thả vào bài một hai từ “đao to búa lớn” dù chúng không ăn nhập gì đến nội dung. Kết quả bài theo đúng mô-típ như thế đều được điểm cao.

Điều quan trọng nhất trong các vấn đề mà tờ báo này nêu ra có lẽ là chuyện dữ liệu lớn được thu thập theo một cách, vì một mục đích nào đó nay được đem ra phân tích theo cách khác, vì mục đích khác. Đương nhiên kết quả sẽ bị méo mó, không còn đáng tin cậy. Kho dữ liệu lớn hiện có đến từ nhiều nguồn, nhiều phương pháp thu thập, liệu ai dám đoan chắc chúng được khai thác đúng cách?

Tờ Financial Times viết mạnh hơn, đặt vấn đề ngay trên tựa “Dữ liệu lớn: Có phải chúng ta đang phạm sai lầm lớn?” Tờ này kể lại câu chuyện xảy ra từ năm 1936 khi Alfred Landon ra tranh cử chức tổng thống Mỹ với Franklin Roosevelt. Tờ Literary Digest làm một cuộc thí nghiệm táo bạo, tiên đoán kết quả cuộc tranh cử bằng cách thăm dò đến 10 triệu người, tức một phần tư số cử tri lúc đó. Sau khi tổng kết 2,4 triệu phiếu thăm dò gởi trả về tòa soạn, một tỷ lệ hồi âm rất lớn, tờ này bèn mạnh dạn kết luận: Landon sẽ thắng với tỷ lệ 55% so với 41%.

Kết quả thật hoàn toàn ngược lại: Roosevelt thắng áp đảo, 61% so với 37%. Đau cho Literary Digest là một cuộc thăm dò quy mô nhỏ hơn nhiều của một nhà tiên phong trong lãnh vực thăm dò là George Gallup (chỉ phỏng vấn 3.000 người) đã có kết quả gần sát với thực tế. Gallup hiểu một điều mà tờ Literary Digest không chịu hiểu: khi nói đến dữ liệu, lớn hay nhỏ không thành vấn đề. Để từ đó tờ Financial Times cảnh báo về lỗi khi lấy mẫu và thiên kiến khi lấy mẫu có thể làm cho dữ liệu lớn trở thành vô giá trị. Ví dụ tờ Literary Digest lấy danh sách người để gởi câu hỏi từ danh sách đăng ký xe ô tô – một mẫu không mang tính đại diện cho cử tri vì toàn là người giàu có.

Ngày nay người ta hoàn toàn có thể quét hết nội dung trên Twitter của một ngày nào đó rồi dựa vào đó mà phân tích tâm trạng của xã hội vào thời điểm đó, được chăng? Hoàn toàn không vì người dùng Twitter ở Mỹ là giới trẻ, sống ở thành thị hay vùng ngoại ô chứ không phải là toàn bộ dân số Mỹ.

Trở lại với ví dụ về ứng dụng tự động phát hiện ổ gà của thành phố Boston, thực tế đây chỉ là bản đồ tình trạng đường sá của những khu nhà giàu, khu giới trẻ hay lui tới bởi sở hữu điện thoại di động là giới đó chứ không phải toàn bộ thành phố, không phải là các khu nghèo, ổ gà nhiều hơn, cần sửa đường nhiều hơn.

Dữ liệu lớn, dù là cơ sở để doanh nghiệp, tổ chức tiên đoán được tâm lý, thói quen người tiêu dùng, cũng không nên và không thể trở thành yếu tố xác định dòng chảy cuộc sống. Báo mà cứ chạy theo dữ liệu lớn về sở thích đọc tin giật gân của đại đa số thanh niên ngày nay thì không lẽ cứ chìu theo để đăng toàn tin giật gân, bỏ qua loại tin nghiêm túc? Doanh nghiệp đo lường xu hướng thời trang năm nay xong, không lẽ chỉ sản xuất độc nhất một loại áo bán chạy để tất cả xã hội thành nơi mặc đồng phục? Cái bất ngờ, cái dị biệt luôn là gia vị của cuộc sống – dữ liệu lớn hay không có dữ liệu lớn – không có những ngoại lệ này cuộc sống sẽ thiếu màu sắc biết bao.

  



Box
Từ chuyện cảm cúm mà ra
Câu chuyện dữ liệu lớn bùng phát một phần do sự ồn ào Google tạo ra cách đây 5 năm. Lúc đó một nhóm nghiên cứu của Google xuất bản một bài trên tạp chí Nature cho biết họ có thể theo dõi sự bùng phát của dịch cúm ở khắp nước Mỹ một cách chính xác và nhanh hơn Trung tâm Phòng chống dịch bệnh. Đó là nhờ theo dõi và phân tích xu hướng tìm kiếm từ khóa “bệnh cúm” cũng như những từ miêu tả triệu chứng của bệnh này.
Từ đó dữ liệu lớn kiểu “xu hướng bệnh cúm Google” này đã trở thành đề tài thời thượng.
Năm ngoái tờ Nature lại đăng bài nhưng lần này là tin xấu cho Google. Sau khi cung cấp thông tin chính xác về sự bùng phát dịch cúm ở các địa phương trong mấy mùa cúm liên tiếp, nay dữ liệu của Google cung cấp không còn chính xác nữa. Có lúc dữ liệu của Google cảnh báo cúm sắp bùng lên ở đây hay ở đây nhưng sau đó không có gì xảy ra cả.
Lý do có thể vì Google đi tìm mối liên hệ nhưng không chú ý đến nhân quả. Ví dụ cuối năm 2012 thế giới đang lo sợ vì dịch cúm, đương nhiên ai cũng đi tìm thông tin chứ đâu phải vì họ có triệu chứng bị bệnh. Hay có thể do Google thay đổi thuật toán tìm kiếm nên kết quả không còn chính xác như xưa. Dù sao câu chuyện cảm cúm của Google phản ánh rõ sự thăng trầm của dữ liệu lớn trong mấy năm qua.


Sunday, April 20, 2014

Mau quên

Mau quên

Cho đến nay, về mặt loại hình pháp lý, không có việc phân chia doanh nghiệp thành doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hay doanh nghiệp nhà nước. Kể từ hạn chót là ngày 1-7-2010 tất cả các doanh nghiệp nhà nước trước đó hoạt động theo Luật Doanh nghiệp nhà nước đã được chuyển đổi (đa phần thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên) để hoạt động theo Luật Doanh nghiệp chung cho mọi loại hình.

Gọi tên doanh nghiệp nhà nước chỉ là cách nhắc đến hình thức sở hữu và theo luật, chủ sở hữu điều khiển doanh nghiệp bằng người đại diện được cử vào Hội đồng quản trị hay Hội đồng thành viên.

Nếu nói cho sòng phẳng thì chính Bộ Tài chính cũng không được can thiệp trực tiếp vào các doanh nghiệp nhà nước một khi những đơn vị này hoạt động theo Luật Doanh nghiệp. Nếu muốn chi phối chuyện đầu tư vào đâu, sử dụng lợi nhuận ra sao, hạn chế lương người đứng đầu như thế nào thì Bộ phải thông qua chủ sở hữu và chủ sở hữu sẽ áp dụng sau khi có quyết định của Hội đồng quản trị hay Hội đồng thành viên.

Đó là ý nghĩa của việc chuyển đổi DNNN, kéo dài suốt bốn năm sau khi Luật Doanh nghiệp có hiệu lực. Đó là cả một quá trình để tiến tới việc đối xử bình đẳng giữa mọi doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế.

Thế nhưng dường như mọi người chóng quên quá trình chuyển đổi quy mô này, chóng quên ý nghĩa của việc chuyển đổi nên cứ quay về quán tính ứng xử với DNNN như ngày còn hoạt động theo Luật Doanh nghiệp nhà nước.

Khi đưa ra quy định mức trần lương lãnh đạo các tập đoàn kinh tế nhà nước là 36 triệu/tháng, có thể người làm chính sách sẽ thỏa mãn được dư luận đang bức xúc vì DNNN hoạt động không hiệu quả, gây thất thoát mà hưởng lương quá cao. Thế nhưng phải nhìn vấn đề này ở góc cạnh pháp lý: không ai có quyền ấn định mức lương như thế trừ Hội đồng thành viên. Nhà nước, thông qua người đại diện phần vốn của nhà nước tại doanh nghiệp thậm chí có thể ấn định mức lương thấp hơn, 20 triệu đồng thôi nhưng phải làm đúng quy trình.

Lẽ ra khi đã chuyển đổi, nên để DNNN hoạt động như bất kỳ doanh nghiệp nào khác. Chủ sở hữu giao chỉ tiêu, giao mục tiêu, lãnh đạo doanh nghiệp phải thi hành. Nếu không đạt chỉ tiêu, không làm theo mục tiêu đề ra (có thể mục tiêu phục vụ dân sinh) thì cách chức các lãnh đạo doanh nghiệp được cử ra điều hành và thay bằng người khác. Doanh nghiệp tư nhân hay doanh nghiệp FDI làm vậy thỉ DNNN cũng phải đi theo con đường đúng luật này thôi. Nên bớt can thiệp ở tầm rất vi mô như lương thưởng ở DNNN hay các đơn vị sự nghiệp có thu. Người ta đã quản lý theo mục tiêu từ lâu rồi, giờ chúng ta vẫn còn loay hoay quản lý theo các tiêu chí từ hàng chục năm về trước.

Ngay chính Nghị định 25/2010 về việc chuyển đổi này cũng nói rõ: “Mỗi công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên được chuyển đổi từ công ty nhà nước hoặc thành lập mới chỉ do một tổ chức được phân công, phân cấp dưới đây thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu”. Không thể để một DNNN chịu sự điều hành của nhiều bộ ban ngành hay địa phương cùng lúc vì sẽ rối về nguyên tắc kinh doanh.

Giả thử tinh thần chuyển đổi được thấm nhuần trong quy trình quản lý nhà nước thì có lẽ gần bốn năm qua, chúng ta đã có những bước tiến trong quản lý khối DNNN. Vì vậy nếu Luật Doanh nghiệp sửa đổi lại bổ sung một chương dành riêng cho doanh nghiệp nhà nước thì đó là một bước lùi về mặt tư duy trong quản lý nền kinh tế bên cạnh sự mau quên của bốn năm qua.





Kiến tạo và điều hành

Kiến tạo khác điều hành ở chỗ nào?

Có lẽ nhiều người đồng tình với ý kiến của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: “Phải chuyển mạnh từ nhà nước điều hành nền kinh tế sang nhà nước kiến tạo phát triển” (bài viết về nhiệm vụ trọng tâm của Chính phủ nhiệm kỳ 2011 - 2016). Tuy nhiên chuyển từ nhà nước điều hành sang nhà nước kiến tạo không phải là chuyện dễ dàng, một sớm một chiều mà làm được. Xin đưa ra hai ví dụ.

Nghị định 195/2013 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xuất bản, trong đó có đề cập đến một trong những điều kiện để thành lập nhà xuất bản là trụ sở của nhà xuất bản phải có diện tích sử dụng từ 200 mét vuông trở lên - điều 8 (1.a).

Quy định chi ly như thế (kèm với điều kiện có ít nhất 5 tỷ đồng, có đủ trang thiết bị để tổ chức xuất bản) là một dạng của nhà nước điều hành. Vì lo chuyện điều hành nên nhà nước phải lo nhiều chuyện lắm, nhà xuất bản mà cơ ngơi nhỏ quá làm sao hoạt động, sách in xong về để đâu, nhân viên, biên tập viên ngồi đâu, chỗ nào mà tiếp nhà văn đến trao đổi bản thảo... Trong khi nếu biết triết lý buông bỏ, cứ để mấy việc đó cho nhà xuất bản lo thì nhà nước khỏe hơn biết bao nhiêu. Cái lo đó nó xưa cũ như tư duy của các ông bố bà mẹ thời trước, không dám cho con cái ra đường sợ bị kẻ xấu dụ dỗ.

Và vì lo điều hành nên nhà nước theo đuổi mô hình trăm công nghìn việc đó đâu có biết giờ đây người ta đã có thể outsource (thuê ngoài) hầu như mọi thứ. Sách thì thuê kho, giao tiếp thì qua mạng, trưng bày sách trên web, thậm chí tổ chức hội thảo về một cuốn sách nổi tiếng nào đó cứ thuê công ty tổ chức sự kiện họ lo hết mọi chuyện. Mắc gì nhà nước phải lo nhà xuất bản có trụ sở rộng từ 200 mét vuông trở lên?

Cũng trong nghị định này, loại hình sách điện tử được đề cập. Một lần nữa tư duy nhà nước điều hành được thể hiện rất rõ như một bà mẹ cả lo khi đòi điều kiện để xuất bản sách điện tử là phải “có máy chủ đặt tại Việt Nam”.

Chuyện đặt ra những yêu cầu khác như “có thiết bị, phần mềm phục vụ việc thiết kế, dàn trang, ghi dữ liệu trên các phương tiện điện tử”, “có đường truyền kết nối Internet được đăng ký hợp pháp để xuất bản, phát hành xuất bản phẩm điện tử trên mạng Internet” thể hiện quá rõ tư duy “cả lo” đã nói ở trên nên thôi, không bàn nữa vì nó hiển nhiên quá rồi.

Riêng chuyện “có máy chủ đặt ở Việt Nam” thì cần nói cho rõ ngọn ngành một chút. Mới nhìn qua, yêu cầu này quá chính đáng, không có máy chủ ở trong nước thì cơ sở dữ liệu để khơi khơi ở nước ngoài làm sao bảo mật, nếu có tác phẩm điện tử cần thu hồi thì làm sao? Nhưng cứ nghĩ lại mà xem, một nhà nước kiến tạo phát triển sẽ để nhà xuất bản tự lo chuyện bảo mật thông tin, chuyện chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung, không việc gì nhà nước phải lo cả. Họ làm sai, họ thiếu trách nhiệm đã có luật pháp khác điều chỉnh rồi. Hơn nữa xuất bản sách chứ đâu phải là chuyện bí mật quốc gia đại sự gì để phải đặt ra những ràng buộc tự cản chân mình như thế.

Hiện nay các nhà xuất bản nói riêng và các doanh nghiệp cần hoạt động trên Internet nói chung đã dần chuyển sang các dịch vụ đám mây, họ không còn phải duy trì máy chủ tốn kém, không hiệu quả mà chuyển sang thuê dịch vụ của các công ty lớn. Vì sao bây giờ chúng ta còn loay hoay với khái niệm “có máy chủ đặt ở Việt Nam?”

*                      *                      *

Ví dụ thứ nhì là Nghị định 18/2014 quy định về chế độ nhuận bút trong lĩnh vực báo chí, xuất bản. Đây là nghị định quy định rất chi tiết nhuận bút thể loại nào cao hơn thể loại nào, thời hạn trả nhuận bút chậm nhất là bao lâu sau khi xuất bản, không liên hệ được người hưởng nhuận bút đến 3 lần thì làm sao...

Đặc biệt nghị định định rõ khung nhuận bút cho từng thể loại, mức tối đa của tin là bao nhiêu, phóng sự là bao nhiêu, dịch là bao nhiêu.

Nói tóm lại, đây là một ví dụ điển hình về nhà nước điều hành, lo đến mức ấn định chi ly từng loại nhuận bút cho từng tờ báo. Giả thử để theo dõi việc tuân thủ nghị định, một bộ máy khổng lồ cũng không thể làm nỗi với biết bao nhiêu tin bài, sách được xuất bản hàng ngày, hàng năm?

Có người lập luận, nếu không có bộ khung nhuận bút như thế, lấy ai bảo vệ quyền lợi của nhà văn, nhà báo? Không ai làm chuyện đó tốt hơn cơ chế thị trường, cơ chế thuận mua vừa bán. Ngược lại, có người phân tích, không quy định vậy, các báo cứ trả nhuận bút cao ngất cho nhân viên rồi khai lỗ, theo kiểu trốn thuế thì sao? Cái đó đã có Luật thuế thu nhập cá nhân lo vì nếu tránh bên thuế thu nhập doanh nghiệp sẽ phải chịu thuế thu nhập cá nhân.

Một nhà nước lo chuyện vĩ mô sẽ không để tâm đến các chuyện quá vi mô này. Nhà nước chỉ phê duyệt các loại hình báo chí cần thiết để đưa thông tin đến người dân với chi phí thấp nhất qua một gói kinh phí phân bổ hàng năm. Ai làm không hiệu quả cứ sa thải thay bằng người khác; báo nào làm không hiệu quả, cắt ngân sách chuyển cho báo khác. Đó chính là chuyển từ “điều hành” sang “kiến tạo phát triển” và tốt nhất là chuyển ngay từ thiết kế chính sách.



Ngược sáng

 Ngày trước lúc nào cũng nghe khuyên chụp ảnh thì đừng chụp ngược sáng. Có lẽ họ sợ chụp như thế mặt của người mẫu sẽ tối thui. Ngày nay máy...