Sunday, August 19, 2018

Giáo dục có vốn nước ngoài


Thở phào… nhưng chưa nhẹ nhõm

Nguyễn Vạn Phú

Giáo dục là một trong những lãnh vực nhận nhiều lời ta thán mỗi khi có hội nghị góp ý cho đầu tư nước ngoài. Một quy định mới vừa ra đời, có hiệu lực từ ngày 1-8-2018, giải quyết được bao nhiêu phần trăm những than phiền này?

Nhà đầu tư thường than gì?

Nhưng có lẽ trước hết cần điểm lại những vấn đề gây khó khăn cho nhà đầu tư nước ngoài trong lãnh vực giáo dục, trước đây được điều chỉnh bởi Nghị định 73/2012. Một trong những điểm được nhắc nhiều nhất là quy định cơ sở giáo dục có vốn đầu tư nước ngoài được phép tuyển học sinh Việt Nam nhưng số học sinh Việt Nam ở trường tiểu học và trung học cơ sở không quá 10% tổng số học sinh của trường, ở trường trung học phổ thông không quá 20% tổng số học sinh của trường. Học sinh Việt Nam dưới 5 tuổi không được tiếp nhận vào học chương trình của nước ngoài.

Quy định này còn có thể hợp lý ở thời kỳ các trường quốc tế mở ra chủ yếu cho con em nhà đầu tư hay nhà ngoại giao nước ngoài. Sau này có những nhà đầu tư FDI muốn mở các trường quốc tế nhắm đến học sinh Việt Nam nhưng xem như bó tay vì hạn mức này. Ở các trường quốc tế nổi tiếng thường học sinh người Việt phải xếp hàng đợi hạn ngạch; đến nỗi có trường bày phụ huynh cho con em tạm lấy quốc tịch Campuchia để vào học cho nhanh!

Thế nhưng với nhà đầu tư, điều gây bức xúc cho họ nhất là thủ tục nhiêu khê khi thành lập một cơ sở giáo dục, bất kể đó chỉ là chi nhánh một trung tâm ngoại ngữ hay một trường đại học bề thế. Nhà đầu tư phải xin cho được ba loại giấy phép (giấy phép đầu tư, giấy phép thành lập, giấy phép hoạt động), với những hồ sơ và thủ tục trùng lắp nhau. Mỗi loại giấy phép phải đi qua nhiều cửa thẩm định, mất rất nhiều thời gian. Chính vì vậy, đọc tin tức thời sự, có lúc chúng ta nghe trường đại học Fulbright được cấp giấy phép đầu tư, một thời gian sau lại nghe Fulbright được trao giấy phép thành lập và thêm một thời gian nữa trường này mới có giấy phép hoạt động.

Ở đây vấn đề con gà có trước hay quả trứng có trước cũng là nỗi đau đầu của nhà đầu tư: họ phải đáp ứng nhiều điều kiện mới được cấp phép nhưng chưa có giấy phép mà tuyển giáo viên, thuê hay xây cơ sở dạy học về để đó rất lãng phí, tốn kém. Tuyển giảng viên có ít nhất 5 năm kinh nghiệm đã khó, phải trả lương đầy đủ cho họ khi chưa có giấy phép hoạt động, tức chưa có doanh thu càng khó hơn.

Nghị định 73 cũ cũng có những yêu cầu cao về vốn đầu tư, về chương trình giảng dạy và đội ngũ giáo viên. Các yêu cầu này cũng nhằm bảo vệ quyền lợi của người học nhưng đôi lúc không mang tính thực tế. Điều 31 quy định: “Giáo viên, giảng viên là người nước ngoài giảng dạy tại các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn, cơ sở giáo dục mầm non, cơ sở giáo dục phổ thông, cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở giáo dục đại học có vốn đầu tư nước ngoài ít nhất phải có 5 năm kinh nghiệm trong cùng lĩnh vực giảng dạy”. Với giảng viên đại học, yêu cầu có 5 năm kinh nghiệm nghe còn tương đối chấp nhận được nhưng với một trung tâm ngoại ngữ, nhiều lúc phải tuyển người bản ngữ làm thêm để kiếm thêm thu nhập thì lấy đâu ra từng ấy năm kinh nghiệm.

Thật ra yêu cầu này đã được sửa đổi vào cuối năm 2014 (bằng Nghị định 124), bỏ điều kiện phải có ít nhất 5 năm kinh nghiệm đối với giáo viên là người nước ngoài giảng dạy tại các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn, trường mầm non, trường phổ thông.

Giải quyết đến đâu?

Nghị định 86/2018, có hiệu lực từ đầu tháng này, được kỳ vọng giải quyết hết mọi nỗi băn khoăn của nhà đầu tư, nhất là sau các góp ý của nhiều tổ chức và lời hứa hẹn của các quan chức giáo dục. Thế nhưng có thể thấy cách giải quyết là chưa triệt để, chẳng hạn, quy định hạn chế số lượng học sinh Việt Nam tại các trường có vốn đầu tư nước ngoài (từ mầm non đến trung học phổ thông) được nâng lên, từ 10% hay 20% lên thành không quá 50% chứ không phải gỡ bỏ hoàn toàn.

Hay thủ tục thành lập các cơ sở giáo dục có vốn đầu tư nước ngoài được đơn giản hóa nhưng chỉ cho cơ sở đào tạo bồi dưỡng ngắn hạn (chỉ còn hai bước: cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và cấp phép hoạt động giáo dục). Các trường khác, từ mầm non đến đại học vẫn phải áp dụng quy trình ba bước: xin cấp giấy chứng nhận đầu tư, xin cấp quyết định thành lập và xin cấp phép hoạt động giáo dục.

Thật ra khi xin thành lập một trường đại học, đầu tiên Thủ tướng Chính phủ ra quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư trên cơ sở tờ trình của các Bộ Kế hoạch-Đầu tư, Giáo dục-Đào tạo và các cơ quan liên quan. Bước này là quan trọng nhất vì phải đi qua các cửa quan trọng; không biết vì sao sau đó phải làm lại các thủ tục tương tự để thực hiện quy trình ba bước nói trên.

Cũng như quy định cũ, Nghị định 86 cũng yêu cầu các cơ sở giáo dục từ mầm non đến phổ thông có nhận học sinh Việt Nam phải dạy những nội dung bắt buộc (từ các môn Lịch sử, Địa lý, tiếng Việt). Tuy nhiên, cái mới là nghị định sử dụng cụm từ “nội dung bắt buộc” thay vì “môn học bắt buộc” giúp các trường có thể linh hoạt lồng ghép nội dung các môn thay vì có giờ dạy riêng các môn bằng tiếng Việt.

Có một số nội dung Nghị định 86 nâng cao yêu cầu so với trước. Chẳng hạn trước đây quy định tỉ lệ tiến sĩ trên giảng viên của các trường đại học có vốn nước ngoài chỉ là 35% thì nay tăng lên 50%. Vốn của các trường đại học trước đây chỉ cần 300 tỷ đồng thì nay được nâng lên thành 1.000 tỷ đồng (không bao gồm chi phí sử dụng đất) cho tương xứng với yêu cầu về vốn đối với các trường đại học trong nước. 

Nặng nhất là quy định “Đến thời điểm thẩm định cho phép thành lập trường đại học, giá trị đầu tư phải thực hiện được trên 500 tỷ đồng”. Trong khi diện tích đất tối thiểu của các trường đại học tư trong nước phải đạt 5 hecta thì trường đại học có vốn đầu tư nước ngoài không chịu ràng buộc này, chỉ trừ quy định: “Diện tích đất để xây dựng trường đạt bình quân ít nhất 25 m2/sinh viên tại thời điểm có quy mô đào tạo cao nhất”.

Tuy nhiên, theo chúng tôi, một vấn đề quan trọng mà cả Nghị định 73 cũ và Nghị định 86 mới chưa chú ý là nội hàm của cơ sở giáo dục có vốn đầu tư nước ngoài. Nghị định 73 không đề cập còn Nghị định 86 định nghĩa “Cơ sở giáo dục có vốn đầu tư nước ngoài là cơ sở giáo dục do tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài bỏ vốn đầu tư”. 

Định nghĩa như thế là còn bỏ sót các cơ sở giáo dục, mặc dù vốn là của người trong nước, nhưng sau đó lại thuê các tổ chức nước ngoài điều hành, giảng dạy y như một trường có vốn đầu tư nước ngoài. Bởi các trường như thế đang giảng dạy theo chương trình nước ngoài, sử dụng tiếng Anh hay một ngoại ngữ khác làm ngôn ngữ giảng dạy và có thể cấp bằng nước ngoài. 

Loại hình trường “quốc tế” như thế hiện có nhiều và gây hiểu nhầm ở phụ huynh học sinh. Cần xác định những trường như thế có bị chi phối bởi những ràng buộc về chương trình đào tạo, đội ngũ giáo viên như trường có vốn đầu tư nước ngoài hay không.



Thursday, August 9, 2018

Ảo tưởng blockchain

Blockchain chỉ là ảo tưởng

(Bài này đăng trên tờ Tuổi Trẻ Cuối Tuần. Tuổi Trẻ Online bị đình bản 3 tháng; TTCT không có chỗ để đưa lên. Vậy nên bài được đưa lên blog sớm hơn thường lệ, thay vì chờ vài ba tuần ưu tiên cho bên báo).

Nguyễn Vạn Phú

Xã hội truyền thống xây dựng dựa trên niềm tin vào con người và các định chế do con người dựng nên – blockchain được phát triển dựa trên giả định không thể tin ai. Thử nghĩ xem xu hướng nào sẽ thắng thế và nên cổ vũ cho xu hướng nào?

Các bài viết về blockchain thường dành ra cỡ một phần ba để giải thích blockchain là gì. Người đọc ít khi vượt qua một phần ba này nên cái đọng lại trong nhiều người là blockchain lắm phức tạp nhưng cũng lắm tiềm năng. Nói theo cách đơn giản hóa nhất, blockchain là một cơ sở dữ liệu an toàn bậc nhất vì không ai có thể can thiệp sửa chữa thông tin bên trong.

Vì là cơ sở dữ liệu nên blockchain có thể áp dụng trong nhiều trường hợp như ghi nhận mọi biến động trong thị trường địa ốc một nước mà không cần nhờ tới một bên thứ ba như công chứng viên hay cơ quan địa chính nhà nước chứng thực. Nói cách khác những giao dịch giữa hai bên mà trước đây cần một bên trung gian xác nhận đều có thể tiến hành bằng công nghệ blockchain và loại bỏ bên trung gian. Đó có thể là mua bán chứng khoán, chi trả trong thương mại quốc tế, đăng ký sở hữu tài sản như nhà cửa, xe cộ… Nói đến đây, ắt ai nấy đều thèm thuồng cái sức mạnh vượt trội của blockchain, tưởng đâu một sớm một chiều nó sẽ thay đổi cách tổ chức xã hội của cả nhân loại.

Lòng tin con người là yếu tố quyết định

Thế nhưng bất kể biết bao hội thảo, biết bao bài thuyết trình, biết bao bài viết ca ngợi ưu thế blockchain, thử hỏi đã có ai thấy một ứng dụng phổ biến trong đời sống thực dùng nền tảng blockchain, ngoài các đồng tiền mã hóa?

Trong ngành hàng không dân dụng, cơ chế máy bay tự lái đã hoàn chỉnh đến độ các máy bay đời mới đã có thể tự cất cánh, hạ cánh. Nhưng cứ thử hỏi liệu khách đi máy bay có chịu lên một chiếc máy bay không có phi công, có lẽ không ai dám liều cả. Blockchain cũng vậy, cho dù nó tạo một cơ chế ghi nhận quyền sở hữu nhà đất hoàn chỉnh, không ai có thể giả mạo, chỉnh sửa giấy tờ, liệu đã có dân chúng nước nào giao phó hồ sơ nhà đất của họ cho blockchain? Đây là yếu tố chưa thấy bài viết nào về blockchain đề cập và giải quyết.

Một trong những ứng dụng tiềm năng được ca ngợi nhất của blockchain là “hợp đồng thông minh”, tức hợp đồng kỹ thuật số có nhúng những đoạn mã “nếu… thì….” để sau đó hợp đồng có thể tự động thực thi khi các điều kiện đặt ra được đáp ứng. Trước đây hợp đồng truyền thống dựa vào lòng tin của con người, cộng với áp lực thực thi của xã hội, của luật pháp – tức dựa trên cả hàng ngàn năm điều chỉnh, gây dựng lòng tin vào con người, lòng tin vào công lý. Nay chuyển nó sang cho các đoạn mã làm nền tảng thực thi thì liệu có quá lạc quan khi cho rằng con người sẽ chấp nhận “hợp đồng thông minh” hơn là hợp đồng được cả một hệ thống luật dân sự bảo chứng? Liệu một công nghệ dựa trên giả định không thể tin ai có thể thay thế các định chế dựa trên lòng tin vào con người?

Để dễ hình dung, hãy nhìn vào một ứng dụng cụ thể: blockchain trong phát hành nhạc. Phát hành nhạc hiện đang trải qua những thay đổi tận gốc rễ - thay vì bán đĩa ghi âm, ca sĩ có thể đưa bài hát của mình lên một nơi phát hành trực tuyến như Apple Music hay Spotify nhưng cũ cũng như mới, ca sĩ đều phải dựa vào bên trung gian để đưa sản phẩm đến người nghe và chịu mất hoa hồng. Blockchain được kỳ vọng thay đổi điều đó bằng cách tạo ra một cơ sở dữ liệu chính xác ai sở hữu gì; cộng với một dạng hợp đồng thông minh, kiểu nếu A chi trả 5 đồng thì được nghe bài B ba lần – người ta cứ nghĩ sau này thính giả cứ trả tiền trực tiếp cho ca sĩ, khỏi qua trung gian nữa. Vấn đề là lúc nào cũng có một lượng thính giả đông đảo muốn nghe nhạc mà không mất tiền, họ sẽ ngó lơ hẳn blockchain như hiện nay họ đâu thèm dùng Spotify hay Apple Music.

Ý tưởng loại bỏ trung gian

Trở lại ứng dụng blockchain được triển khai duy nhất trong thực tế - đồng tiền mã hóa mà khét tiếng nhất là bitcoin, ưu điểm lớn nhất của nó là loại bỏ các trung gian như ngân hàng trung ương phát hành tiền, ngân hàng thương mại ghi nhận các giao dịch hay các tổ chức thanh toán như Visa hay MasterCard. Cái giá phải trả là sự biến động giá trị không ai chịu nổi, mỗi giao dịch phải mất một thời gian lâu mới được xác nhận (mỗi giây Visa xử lý 60.000 giao dịch còn bitcoin tối đa chỉ được bảy giao dịch), nguồn năng lượng khổng lồ cần có để tiến hành ghi nhận giao dịch… Trong khi đó chi phí cho các bên trung gian là không đáng kể và quan trọng hơn, bên trung gian cũng là những tế bào làm nên xã hội hiện đại, gạt bỏ chúng đi, cuối cùng chúng ta còn lại gì?

Thử nhìn lại các bên trung gian mà nền kinh tế số muốn loại bỏ: Airbnb muốn loại bỏ các khách sạn để người thuê nhà liên lạc trực tiếp với người có nhà cho thuê; Uber hay Grab loại bỏ các hãng taxi; các website thương mại điện tử loại bỏ cửa hàng tạp hóa; robot loại bỏ công nhân; các trang đặt chỗ như Booking.com loại bỏ đại lý… Cạnh tranh bằng cách đẩy một bên vào chỗ phải diệt vong chưa chắc đã là phương thức bền vững. Blockchain chính là ứng dụng kinh tế số hứa hẹn loại bỏ nhiều trung gian nhất, từ ngân hàng đến nhà môi giới, thậm chí cả cơ quan nhà nước và chính phủ.

Sai sót do con người

Chúng ta đã từng nghe các vụ hacker đột nhập đánh cắp bitcoin rồi đánh sập các sàn giao dịch bitcoin như thế nào. Kể cũng lạ, người ta từng khẳng định blockchain là không thể sửa đổi vậy hacker làm sao để đánh cắp nếu không ghi nhận sự chuyển dịch sở hữu đồng bitcoin đánh cắp sang cho mình? Blockchain do con người thiết kế, nhập dữ liệu đầu vào nên chắc chắn sai sót sẽ xảy ra.

Một trong những hợp đồng thông minh lớn nhất là một công cụ đầu tư viết tắt là DAO, cho phép thành viên đầu tư trực tiếp bằng cách dùng chìa khóa mã hóa riêng để bỏ phiếu nên đầu tư vào đâu. Như thế đây là quỹ đầu tư không cần ban điều hành, không cần luật sư, không cần họp hội đồng quản trị. Thế mà do một lỗi phần mềm DAO bỏ phiếu đầu tư 50 triệu đô-la, tức một phần ba tổng quỹ vào một dự án sau đó được phát hiện là do các nhà lập trình dựng lên như một dự án ma. Dù tranh cãi đây là do lỗi phần mềm hay do con người lợi dụng công nghệ để tư lợi, sau cùng mọi người phải ngồi lại bỏ phiếu bằng cách truyền thống để trả lại nguyên trạng, tiền ai về nhà nấy. Dân chuyên về blockchain cuối cùng phải dùng lý trí để thực thi hợp đồng chứ không dựa vào sự “thông minh” của máy móc nữa.

Sai sót tiềm ẩn lớn nhất là phóng đại những gì blockchain có thể làm được, hay gán cho blockchain những ưu điểm thật ra của nơi khác. Ví dụ người ta thường quảng bá, chi trả bảo hiểm y tế bằng blockchain là nhanh như chớp trong khi bình thường phải mất 90 ngày để hãng bảo hiểm xử lý một yêu cầu. Cái này là nhờ ứng dụng công nghệ vào quản lý chi trả bảo hiểm chứ không phải nhờ blockchain. Nếu có tranh chấp hay có gian lận bảo hiểm thì blockchain cũng đành chịu, không thể đẩy nhanh quy trình thanh toán. Tương tự hiện nay không hiếm các lời rao chào hàng blockchain cho mọi ngành, mọi lãnh vực, kể cả nông nghiệp như truy xuất nguồn gốc nông sản. Đây cũng chỉ là ứng dụng cơ sở dữ liệu kết nối với mã QR dán trên sản phẩm chứ có liên quan gì đến blockchain?

Cuộc sống có những chọn lựa riêng của nó. Có thời cả thế giới lao vào tranh cãi sẽ dùng định dạng gì, BluRay hay HD-DVD cuối cùng cả hai đều bị bỏ xó. Thiết nghĩ những ồn ào chung quanh blockchain cũng thế, cuối cùng thế giới sẽ chọn giải pháp riêng như kiểu chi trả qua điện thoại di động, chẳng cần gì đến blockchain hay bitcoin. Cũng có thể bỗng xuất hiện một ứng dụng cất cánh cho blockchain, tức một ứng dụng thành công bất ngờ, giúp phổ biến blockchain nhanh chóng. Chưa ai biết được tương lai nhưng nên có thái độ hoài nghi để khỏi bị lừa hay bị cuốn vào những lời chào hàng đắt đỏ.


Box

Giả định bạn muốn mua sách qua mạng. Giả định có một tác giả dùng công nghệ blockchain, soạn hợp đồng thông minh để bán sách. Như vậy khác với lối mua bán truyền thống, quẹt thẻ xong chờ họ gởi sách về nhà, nay bạn không tin ai và người bán sách không tin bạn nên hai bên cậy nhờ hợp đồng thông minh. Làm sao bạn đủ sức để rà soát cái hợp đồng thông minh này để xem có bị ông tác giả kia lừa hết tiền trong thẻ? Vậy là cuối cùng, dù sử dụng hợp đồng thông minh, bạn vẫn phải dựa vào những giả định: ông tác giả phải làm ăn đàng hoàng để giữ uy tín, bạn bè đã mua sách như thế và trôi chảy, ông tác giả là người bạn đã nghe danh và sách giá không bao nhiêu, chắc không ai nỡ lừa nhau. Đó là quyết định dựa trên niềm tin chứ đâu phải dựa vào blockchain.


Monday, August 6, 2018

Khi người giàu không muốn khóc


Khi người giàu không muốn khóc

Giáo sư Douglas Rushkoff là lý thuyết gia truyền thông nổi tiếng. Một hôm ông được mời đến nói chuyện tại một khu nghỉ dưỡng cực kỳ sang trọng với một khoản thù lao bằng cỡ nửa năm lương giáo sư. Ông cứ nghĩ sẽ hé lộ một số trực giác của ông về “tương lai công nghệ” cho khoảng một trăm giới chủ ngân hàng đầu tư nên nhận lời.

Trước đây những lần nói chuyện như thế đều kết thúc bằng phần hỏi đáp, trong đó khán giả thích nghe về các từ công nghệ đang thời thượng như blockchain, in 3D, công nghệ sinh học… nhưng không phải để hiểu chúng một cách cặn kẽ - họ chỉ muốn biết có nên đầu tư vào các xu hướng đang nổi lên đó không!

Lần này ông rất ngạc nhiên khi, thay vì đeo micro bước lên sân khấu, ông được dẫn vào một chiếc bàn tròn đơn sơ có sẵn năm tay đàn ông, toàn là kẻ giàu sụ – là tầng lớn trên trong thế giới của các quỹ đầu cơ. Sau màn chào hỏi ban đầu, ông biết ngay họ không một chút quan tâm đến đề tài ông chuẩn bị sẵn về tương lai công nghệ - họ đến, trong đầu có sẵn những câu hỏi của riêng họ.

Thoạt tiên là các câu vô hại: Máy tính lượng tử có thật không? Tiền ảo nào sẽ thắng? Nhưng dần dần các câu hỏi để lộ ra mối lo canh cánh ngày đêm của họ: Vùng nào sẽ ít bị ảnh hưởng bởi khủng hoảng khí hậu, New Zealand hay Alaska? Có phải Google đang thật sự xây dựng một máy tính để tải nhận thức của nhà khoa học nổi tiếng Ray Kurzweil lên không? Dịch chuyển như thế thì ý thức của ông ta còn tồn tại hay không? Cuối cùng CEO của một tập đoàn chuyên môi giới chứng khoán hỏi câu then chốt, ông ta đã xây gần xong hệ thống hầm ngầm dưới lòng đất, “Làm sao để tôi vẫn kiểm soát được lực lượng bảo vệ sau khi xảy ra biến cố?”

Người ta thường bảo người giàu cũng khóc là hoàn toàn đúng trong trường hợp này. Nếu xảy ra biến cố, tức một từ chung cho cuộc khủng hoảng sẽ diễn ra trong tương lai, có thể là thảm họa môi trường, bất ổn xã hội, nổ bom hạt nhân, virus hủy diệt hay robot nổi loạn tiêu diệt mọi thứ thì tiền bạc và quyền lực cũng không giúp được gì nhiều. Nhưng người giàu không muốn khóc, họ đang tìm cách để đối phó.

Họ hình dung xây được hệ thống ngầm vững chải, có hàng rào bảo vệ ngăn chận đám đông điên cuồng bên ngoài nhưng làm sao dùng tiền để mua bảo vệ vì tiền lúc đó là mớ giấy loại. Đâu có gì ngăn cản bảo vệ tự bầu lãnh đạo rồi chiếm lấy hệ thống? Bắt bảo vệ mang đai kỹ luật chìa khóa do họ cất giữ? Hay chế tạo robot làm bảo vệ?

Đến đây thì Douglas Rushkoff bừng tỉnh. Đối với 5 tay đàn ông này, điều họ đang bàn chính là tương lai công nghệ như kiểu Elon Musk đòi lên sao Hỏa sinh sống, Peter Thiel đòi trường sinh bất tử hay Sam Altman và Ray Kurzweil tải nhận thức lên siêu máy tính để trường tồn. Với họ tương lai công nghệ xoay quanh một từ: thoát thân.

Vì sao ra nông nổi này? Còn đâu thế giới tươi đẹp đầu thập niên 1990 khi tương lai kỹ thuật số mở ra những chân trời mới để cải thiện cuộc sống của nhân loại. Lúc đó những người đi tiên phong nhìn thấy một tương lai bao dung hơn, công bằng hơn, ai cũng như ai trước công nghệ. Đáng tiếc những nhóm lợi ích trong kinh doanh lại thấy cơ hội làm tiền, các thương vụ phát hành cổ phiếu để bán cái tương lai đó cho công chúng. Cả thế giới lên cơn sốt khởi nghiệp làm giàu, ai cũng thế nên không còn ai băn khoăn áy náy về mâu thuẫn đạo đức và tiền bạc. Ai đi ngược lại trào lưu công nghệ đều bị gán nhãn bảo thủ.

Douglas Rushkoff bừng tỉnh nhưng thật ra thế giới đã biết từ lâu con đường khai thác công nghệ một cách sai lạc mà chúng ta đang theo đuổi. Thị trường tập trung không chút khoan dung, đầy dẫy tính bóc lột tổ chức theo kiểu hệ thống siêu thị Walmart khi được bổ sung sức mạnh kỹ thuật số thì biến thành một thứ còn ghê gớm hơn, mất tính người hơn: Amazon. Công ăn việc làm, không còn chút sáng tạo, lại được chẻ nhỏ ra để tự động hóa, cho máy dần thay người. Cả xã hội lao vào các nghề mang tiếng là lao động tự do nhưng thực chất bị sức ép công nghệ bóc lột ngày càng nhiều hơn như lái xe cho Uber, giao hàng cho các trang thương mại điện tử. Văn hóa mua sắm ở các tiệm chạp phô địa phương bị xóa sổ không thương tiếc.

Thế nhưng con người không chịu bỏ thời gian suy nghĩ về cách điều chỉnh để công nghệ chung sống với mình, họ lại biến thành các triết gia, lẩn thẩn tự hỏi: Sau này có nên cho trẻ em cấy não để biết thêm ngoại ngữ? Nhân viên giao dịch chứng khoán cho uống thuốc thông minh thì có sòng phẳng không? Xe tự lái nên ưu tiên cho mạng sống người ngồi trong xe hay khách bộ hành? Các thuộc địa trên sao Hỏa có nên được cai trị theo thể chế dân chủ không? Thay đổi DNA có làm hư bản sắc của tôi không? Robot có quyền như người không? Thật là các câu hỏi sang trọng.

Tệ hại hơn, tiến bộ công nghệ được tô đậm nhờ vắt kiệt môi trường và người nghèo. Hàng triệu triệu máy tính và điện thoại thông minh được sản xuất nhờ sức lao động giá rẻ; nhờ kim loại, đất hiếm khai thác lên thì phá hủy môi trường sống của nhiều cộng đồng. Khi thải loại chúng, nước nghèo trở thành bãi thải chứa rác độc hại nơi trẻ em quần quật phân loại, lựa rác để bán lại các thứ tận thu cho nhà sản xuất, lại thuê người biến chúng thành các món đồ công nghệ thời thượng đắt tiền.

Suy nghĩ theo hướng nhắm mắt làm ngơ các vấn đề xã hội bức bối để cao đạo luận bàn các vấn đề triết lý, riết rồi chúng ta sẽ nhìn không gian chúng ta đang sống theo kiểu: con người là thủ phạm mọi vấn nạn còn công nghệ sẽ là lời giải (nhân vật người máy Smith trong phim Matrix từng bảo con người là dịch bệnh, là ung thư của trái đất này và ta là thuốc chữa). Từ đó mới có những suy nghĩ tải nhận thức lên siêu máy tính, đẻ ra một loại người lai máy để nhân loại bước vào một kỷ nguyên mới, lột bỏ lớp vỏ đầy tội lỗi và phiền muộn chỉ để lại ý thức không bao giờ hư hỏng lên một lớp vỏ mới do công nghệ tạo ra.


*                           *                           *

Trở lại buổi nói chuyện với 5 tay chủ ngân hàng đầu tư giàu có, đang lo cho tương lai có biến không kiểm soát được, Douglas Rushkoff khuyên họ, cách điều khiển lực lượng bảo vệ hiệu quả nhất là đối xử thật tốt với họ, ngay từ bây giờ. Phải xem bảo vệ như người thân trong gia đình. Và họ càng mở rộng cách ứng xử như thế từ bảo vệ ra các nhân viên khác, đến đối tác, chuỗi cung ứng và toàn xã hội thì lúc đó đâu còn lo xã hội có biến.

Rushkoff viết: “Họ mỉm cười khi thấy tôi lạc quan nhưng họ không bị lời tôi thuyết phục. Họ chẳng quan tâm đến cách phòng tránh tai họa vì họ tin chúng ta đã đi quá xa. Bất kể tiền bạc và quyền lực họ đang có, không ai tin họ có thể tác động lên tương lai nữa. Họ chỉ đơn thuần chấp nhận kịch bản xấu nhất và rồi đem hết tiền bạc và công nghệ mà họ có thể huy động để bảo vệ chính họ - đặc biệt khi họ không thể kiếm một chỗ trên con tàu phóng lên sao Hỏa”.

Dù sao với người bình thường như chúng ta, ít ra không có đủ nguồn lực để lo giành chiếc vé lên sao Hỏa hay đủ tiền thuê mướn bảo vệ ngay từ đầu, còn khá nhiều chọn lựa cho tương lai. Rushkoff nói chúng ta có thể phó mặc để trở thành một đơn vị tiêu dùng như những kẻ đứng sau công nghệ mong muốn hay chúng ta có thể tin rằng có một lối sống hài hòa với công nghệ đợi chúng ta tìm ra. Bản chất con người không phải là mạnh được yếu thua, có tiền thì khỏi khóc, có tiền là có lối thoát. Bản chất của con người là sống chết cùng nhau. Nên tương lai của loài người có ra sao thì tất cả đều phải cùng chia sẻ cái tương lai ấy.



Thursday, August 2, 2018

Tranh cãi thương mại: Ai đúng, ai sai?


Tranh cãi thương mại: Ai đúng, ai sai?


Chiến tranh thương mại đã dẫn tới những tranh cãi không ngớt về những khái niệm cơ bản trong ngoại thương. Nguyên do là bởi những chính sách liên quan hiện nay của chính quyền ông Donald Trump đều ít nhiều xuất phát từ cách hiểu những khái niệm này.

Thâm hụt thương mại – xấu hay bình thường?

Tổng thống Mỹ, ông Donald Trump rất ghét thâm hụt mậu dịch. Ông tuyên bố, mỗi năm Mỹ “mất” 800 tỷ đô-la, “không phải nửa triệu hay 12 cent, mỗi năm chúng ta thiệt mất 800 tỷ đô-la trong thương mại”. Phần “mất” lớn nhất là rót cho Trung Quốc, mỗi năm, theo ông, chừng 500 tỷ đô-la mặc dù con số chính thức thâm hụt mậu dịch của Mỹ với Trung Quốc chưa bao giờ vượt quá 375 đô-la/năm. 

Từ lâu quan điểm của ông Trump về thâm hụt thương mại cho đây là điều xấu, gây cản trở cho tăng trưởng kinh tế; giảm thâm hụt sẽ tạo công ăn việc làm cho dân Mỹ và thuế là công cụ tốt nhất để san bằng thâm hụt.

Hầu hết các nhà kinh tế trên thế giới đều không cho khoản thâm hụt thương mại là “mất”, không ai nghĩ thâm hụt thương mại là thiệt hại. Sự khác biệt giữa xuất và nhập chỉ là thước đo lượng hàng hóa và dịch vụ dịch chuyển qua biên giới, nó có thể phản ánh nhiều yếu tố vĩ mô như xu hướng đầu tư nước ngoài, tỷ giá, và mức độ tăng trưởng GDP khác nhau.

Lấy ví dụ Việt Nam, trong một thời gian dài, chịu thâm hụt thương mại khá lớn; ngoại tệ ở đâu ra để chúng ta đi mua hàng hóa của nước ngoài nhiều hơn hàng hóa xuất đi? Cán cân thanh toán của một nước chủ yếu gồm tài khoản vãng lai (chủ yếu là mua bán với nước ngoài) và tài khoản vốn (chủ yếu là đầu tư nước ngoài, vốn vay…) Thâm hụt thương mại làm tài khoản vãng lai bị hụt nhưng sẽ được bù đắp nhờ nguồn vốn đầu tư nước ngoài rót vào tài khoản vốn.

Có thể lý giải: những năm thâm hụt là do các dự án đầu tư nước ngoài phải nhập đủ loại máy móc, thiết bị, nguyên liệu để triển khai. Đến nay thương mại có lúc thặng dư là bởi các dự án FDI đã đi vào hoạt động, đã có hàng bán ra nước ngoài. Vậy thâm hụt thương mại trong trường hợp này có gì là xấu và nay thặng dư cũng không có gì là mừng vì có thể xem đây là dấu hiệu đầu tư đã bão hòa!

Với Mỹ, do đồng tiền trong ngoại thương là đô-la Mỹ nên càng có nhiều thuận lợi hơn nước khác trong việc bù đắp thâm hụt. Với Việt Nam hay các nước khác, để bù đắp cho thâm hụt phải trông cậy vào dòng vốn FDI nhưng Mỹ thì không cần. Thiếu tiền trong tài khoản vãng lai, họ chỉ việc bán trái phiếu để vay vốn giá rẻ khắp thế giới bù vào – tất cả đều tính bằng đô-la Mỹ. Với các nước khác thâm hụt thương mại lâu dài có thể gây sức ép lên tỷ giá nhưng với Mỹ thì không, đâu có vấn đề tỷ giá đâu mà lo.

Thế nhưng đây cũng chính là lý do một số nhà kinh tế nói, với Mỹ, thâm hụt thương mại là dấu hiệu xấu: Mỹ đang vay của tương lai để mua của thế giới về ăn tiêu chứ không chịu đầu tư vào sản xuất. Với nước khác thâm hụt thương mại là sức ép để điều chỉnh nhằm tìm sự cân bằng còn Mỹ do không chịu sức ép nào nên cứ thoải mái nhập hàng từ khắp nơi chứ không chịu nâng mức tiết kiệm.

Thuế - vũ khí đắt giá?

Để giải quyết thâm hụt thương mại, chính quyền ông Trump cho rằng thuế là vũ khí hiệu quả nhất bởi nâng thuế nhập khẩu sẽ làm nản chí hàng nhập khẩu, khuyến khích dân chúng mua hàng nội địa. Các nhà kinh tế Mỹ lại cho rằng tỷ giá mới là yếu tố quan trọng nên trước đó Mỹ tìm cách ép Trung Quốc phải nâng giá đồng tiền họ lên, chứ không phải phá giá. Giá đồng tiền mạnh lên, người dân sẽ thấy mua hàng nhập khẩu có lợi hơn thì tự khắc vấn đề thâm hụt thương mại được giải quyết.

Thực tế cho thấy thuế và các hàng rào khác không có tác dụng gì lên thâm hụt hay thặng dư trong ngoại thương. Những nước có hàng rào thuế thấp nhất như Singapore hay Thụy Sĩ lại có thặng dư thương mại lớn trong khi những nước áp thuế cao như Brazil hay Ấn Độ lại bị thâm hụt mậu dịch.

Với một nước cụ thể, áp thuế lên 100 mặt hàng này thì nhập khẩu của 100 mặt hàng đó có thể giảm nhưng dân chúng lại chuyển qua nhập 100 mặt hàng khác, không có thuế nên cuối cùng về tổng thể, thuế sẽ không tạo ra sự thay đổi gì nhiều. Thuế nhắm vào một nước xuất khẩu nào đó có thể giảm kim ngạch mua bán với nước đó nhưng kim ngạch mua bán với nước khác sẽ tăng lên để bù vào. Còn áp thuế lên hết mọi mặt hàng, với mọi nước sẽ làm giảm cả nhập khẩu lẫn xuất khẩu, tác động xấu lên năng suất và làm tăng lạm phát.

Mỹ nhập nhiều hơn Trung Quốc nên đủ “bài” để “tố”

Một lập luận cũng thường gặp nữa, lần này không xuất phát từ kinh tế gia của hai phe chống và ủng hộ Trump mà từ những người quan sát. Có người cho rằng do Mỹ nhập khẩu từ Trung Quốc nhiều hơn Trung Quốc nhập từ Mỹ (năm 2016, Mỹ bán qua Trung Quốc 115,6 tỷ đô-la và mua từ Trung Quốc 462,6 tỷ đô-la hàng hóa) nên Mỹ có thể đánh thuế lên 34 tỷ đô-la hàng nhập rồi dọa đánh thêm 200 tỷ đô-la nữa chứ Trung Quốc có trả đũa thì đánh đến 115,6 tỷ là hết. Với cán cân thương mại như thế Mỹ có thể dọa thuế lên đến 462,6 tỷ đô-la trị giá hàng hóa chứ không phải đùa.

Lập luận này nghe qua rất hợp lý và chính xác nhưng đã bỏ qua yếu tố thuế gây hại chính bản thân nước áp dụng như thế nào. Giả thử Mỹ đánh thuế trừng phạt lên mọi mặt hàng nhập từ Trung Quốc thì đúng là họ có lượng hàng nhiều hơn phía Trung Quốc đến 4 lần để dọa nhưng vì thế cũng sẽ chịu thiệt hại gián tiếp gấp 4 lần.

Trong đợt áp thuế đầu tiên, đến 95% hàng hóa nhập từ Trung Quốc là đầu vào của các ngành sản xuất khác ở Mỹ nên thuế tăng, tức giá thành đầu vào tăng sẽ gây khó khăn cho những nhà sản xuất này. Còn tính chung toàn bộ hàng nhập khẩu thì có đến 60% là hàng trung gian cho nên thuế sẽ tác động trực tiếp lên hàng loạt doanh nghiệp Mỹ, từ đó tác động xấu lên công ăn việc làm và tăng trưởng kinh tế. Nói cách khác, áp thuế lên hàng hóa của nhau thì người tiêu dùng cả hai đều bị thiệt thòi nhưng tiêu dùng Mỹ thiệt thòi gấn 4 lần tiêu dùng Trung Quốc. Nhìn từ phía xuất khẩu, đúng là nhà xuất khẩu Trung Quốc chịu nhiều sức ép hơn nhưng chỉ cần Trung Quốc phá giá đồng tiền của nước họ để tìm lại sức cạnh tranh cho hàng hóa thì coi như hóa giải vũ khí thuế của Mỹ.

Một yếu tố khác, quan trọng hơn là trong tổng số 462,6 tỷ đô-la hàng hóa mà Mỹ mua của Trung Quốc vào năm 2016 chỉ có một tỷ trọng nhỏ là hàng thuần Trung Quốc, còn lại là hàng của các nước khác đang sản xuất tại Trung Quốc để bán đi khắp thế giới như điện thoại iPhone của chính nước Mỹ. Áp thuế như vậy khác nào bắn vào chân mình.

Với cuộc tranh cãi về các khái niệm cơ bản trong ngoại thương, rất khó phân định ai đúng ai sai. Mới nhìn qua thì hầu như mọi kinh tế gia có tiếng đều chê bai chính sách của ông Trump nhưng cũng có người nói, lập luận theo cách hiểu truyền thống đã kéo dài hàng chục năm nay, kéo theo hàng triệu công nhân Mỹ mất việc. Nay Trump có thể nói sai lý thuyết nhưng tỷ lệ thất nghiệp ở Mỹ đang xuống mức thấp nhất, tăng trưởng GDP lại cao nhất thì lý giải như thế nào?

Thực tế cho thấy sau khi Mỹ dọa đánh thuế lên thêm 200 tỷ đô-la hàng hóa nữa thì phía Trung Quốc giữ thái độ im lặng, dè chừng chứ không tuyên bố trả đũa ngay nữa. Có thể họ đang tìm cách hạn chế thiệt hại, đã hiển hiện trên thị trường chứng khoán, tỷ giá và xu hướng dòng vốn chuyển đi nơi khác.

Có lẽ phải chờ thêm một thời gian nữa mới biết rốt cuộc ai đúng ai sai hay đúng ra, ai có thần kinh thép cứng hơn đối thủ trong cuộc đối đầu này.


Wednesday, August 1, 2018

Kẻ địch đang ở trong nhà


Kẻ địch đang ở trong nhà

Bộ trưởng Quốc phòng Anh, ông Gavin Williamson, đang đọc diễn văn trước Quốc hội Anh về tình hình tại Syria, vừa mới nhắc đến từ Syria, ông này bị ngắt lời và một giọng đều đều vang lên: “Tôi tìm thấy trên web một số thông tin về Lực lượng Dân chủ Syria”!

Williamson luống cuống thò tay vào túi tắt chiếc điện thoại iPhone – hóa ra giọng nói đó là người thư ký ảo Siri trên iPhone đang lắng nghe mọi âm thanh chung quanh, khi nghe Syria, máy tưởng nhầm là kêu Siri dậy nên tự động kích hoạt. Các nghị sĩ được một phen cười thư giãn còn ông Bộ trưởng phải gắng gượng nói đùa: “Tôi thành thực xin lỗi. Bị chính điện thoại di động của mình truy bài là cũng là chuyện xưa nay hiếm”.

Thế nhưng báo chí Anh lại không cười. Họ cho rằng Bộ trưởng Quốc phòng mà mang trong túi một thiết bị luôn luôn có một micro để mở như thế là nguy hiểm, nhỡ bọn tin tặc tìm cách chiếm quyền kiểm soát chiếc iPhone của ông này và lắng nghe được mọi cuộc họp thì sao?

Trước đó một gia đình ở Oregon, Mỹ hoảng hồn khi chiếc loa thông minh Echo trong nhà họ bỗng ghi âm cuộc trò chuyện của hai vợ chồng rồi gởi đoạn băng này cho một người bạn có tên trong danh mục điện thoại. Họ chỉ phát hiện ra khi người bạn này gọi điện báo cho họ biết và kể lại nội dung y chang như thể người này có mặt trong phòng ngủ của hai vợ chồng.

Mặc dù Amazon, nơi làm ra chiếc loa thông minh Echo cam kết đây là sự cố hy hữu, hai vợ chồng này thề từ nay sẽ không cắm điện cho chiếc loa này nữa. Cách đó vài tháng, nhiều người dùng báo cho Amazon biết chiếc Echo ở nhà họ bỗng nửa đêm thức giấc và cười thành tiếng một cách đáng sợ.

Hiện nay các trợ lý ảo đã hiện diện khắp nơi; ai dùng điện thoại di động ắt đều biết Siri trên hệ điều hành iOS và Google Now trên Android. Ở Việt Nam cũng đã có nhiều nhà xài loa thông minh, Amazon thì có Echo, Google có Google Home, còn Apple có HomePod… Mỗi loại máy có một từ kích hoạt, như Echo thì gọi Alexa. Giả thử bạn gọi nhầm kiểu Syria với Siri như trường hợp của ông Bộ trưởng Quốc phòng Anh, máy vẫn tỉnh bơ trò chuyện với bạn như thể được kêu thức dậy một cách bình thường. Từ đó mới có chuyện Burger King, nơi bán bánh mì kẹp thịt, dùng một quảng cáo trên truyền hình để kích hoạt Google Home ở nhiều nhà tình cờ đang nghe quảng cáo. Một quảng cáo trên chiếc TV mà có thể kích hoạt một chiếc máy khác đặt trong phòng khách! Thử tưởng tượng các nguy cơ tiềm ẩn có thể xảy ra khi chiếc máy này kết nối với hệ thống cửa khóa, camera an ninh hay dùng để tắt mở hệ thống báo động.

Sau các vụ như thế, thiên hạ sáng tác ra các mẩu chuyện cười, có lẽ cách đây vài ba năm không ai hiểu nổi: - OK, Google, hãy hỏi Alexa xem Siri có đang lắng nghe chúng tớ trò chuyện không?/-Cortana chen vào: Nếu bạn không làm gì sai trái thì đâu có gì phải lo.

Ở trên là tình huống máy móc ngẫu nhiên lắng nghe con người; còn ở Trung Quốc thì ngược lại, ngày càng có nhiều nơi dùng máy móc để cố tình theo dõi con người mọi lúc mọi nơi. Điển hình là kế hoạch dùng máy bay không người lái (drone) hình dáng như chim bồ câu để giám sát người dân. Theo tờ South China Morning Post, có ít nhất 30 cơ quan nhà nước tại 5 tỉnh đang sử dụng drone để thí điểm việc giám sát tình hình an ninh trật tự.  

Phổ biến hơn là việc dùng camera để biết trạng thái tinh thần của học sinh nhờ phần mềm thông minh nhân tạo. Danh chính ngôn thuận mà nói, hệ thống camera được cho là để ghi nhận vắng trễ của học sinh rồi xem học sinh đang làm gì trong lớp.

Nhưng phần mềm còn có thể cho biết dựa vào biểu cảm của học sinh là các em đang vui hay buồn, đang sợ hay chán, đang ngạc nhiên hay giận dữ… Nhờ thế nhà trường có thể xếp loại học sinh, biết ngay em nào trong giờ học không tập trung theo dõi để chấn chỉnh, theo lời hiệu phó một ngôi trường. Chi tiết về hệ thống theo dõi trạng thái tinh thần của học sinh, được thí điểm ở Hàng Châu đã gây ra cuộc tranh luận gay gắt ở Trung Quốc. Có cha mẹ quyên góp tiền bạc để trường con em họ cũng có hệ thống “tối tân” này nhưng cũng có cha mẹ phản đối, cho rằng theo dõi như thế là vi phạm quyền riêng tư của học sinh. Cứ tưởng tượng học sinh ngồi trong lớp miệng cứ cười tươi cho camera thu hình thì chẳng khác hình ảnh các chú ro-bot trong phim viễn tưởng là bao.



Monday, July 30, 2018

Mua danh hết mấy vạn?


Mua danh hết mấy vạn?

Danh trên mạng xã hội có uy lực rất lớn. Nếu có dịp theo dõi các vụ ồn ào trên không gian mạng ngay từ đầu sẽ thấy thoạt tiên vụ việc chỉ là một hai ý kiến phê phán nhẹ nhàng nhưng bất chợt một nhân vật có hàng chục ngàn followers (người theo dõi) nhảy vào lớn tiếng hướng câu chuyện theo một chiều nào đó, ngay lập tức các followers này sẽ chia sẻ (share) hay thích (like) và vụ việc nay như đám cháy lan nhanh không cách gì chặn được.

Những nhân vật có uy danh trên mạng, có thể là ca sĩ, diễn viên điện ảnh, cầu thủ bóng đá hay đơn thuần là một người viết khéo, kể chuyện lôi cuốn, thường có tin độc nên được nhiều người theo dõi – tất cả đang là những “thế lực” to lớn trong không gian ảo, có thể gây khốn đốn cho một doanh nghiệp, vùi dập một cá nhân xuống bùn đen hay ngược lại, giúp một sản phẩm bán chạy như tôm tươi, biến một quán café trong góc phố nhỏ thành nơi lui tới của giới trẻ… (xem thêm box về giá cả quảng bá trên mạng xã hội).

Thế nhưng danh này… lại có thể mua được, giá cũng khá bèo. Theo một phóng sự dài trên tờ New York Times, rất nhiều nhân vật nổi tiếng, kể cả giáo sư kinh tế, nhà báo, diễn viên, chính trị gia đã mua một lượng người theo dõi ảo khổng lồ để tạo uy danh giả tạo cho mình. Để nhập vai làm phóng sự điều tra, tờ báo này mua thử 25.000 người theo dõi một tài khoản Twitter tự lập lên với giá 225 đô-la. Mười ngàn người đầu tiên có tài khoản y như thật, tức cũng có tên, hình đại diện, rồi đủ thứ mà một người dùng mạng xã hội có. Đó là các tài khoản bị đánh cắp danh tính, trở nên các “xác ướp” hành động theo lập trình; nếu báo viết một dòng tin gì đó, các tài khoản theo dõi kiểu xác ướp này sẽ lập lại nội dung để chia sẻ thông tin và nhân rộng nó ra.

Chính Facebook thừa nhận với các nhà đầu tư rằng số lượng người dùng giả mạo có thể cao gấp đôi số lượng họ ước tính ban đầu, tức có chừng 60 triệu tài khoản “xác ướp” đang tung hoành trên mạng xã hội này. Còn mạng Twitter, theo New York Times, có chừng 45 triệu tài khoản giả, cũng đang hoạt động ầm ĩ. Một công ty chuyên bán tài khoản giả như thế hiện đang có trong tay chừng 3,5 triệu “xác ướp”, sẵn sàng để bán mình, mà bán đi bán lại nhiều lần cho các khách hàng khác nhau.

Bắt chước New York Times, người viết tò mò tìm hiểu thử coi có thể mua followers ở Việt Nam chăng? Gõ mua followers vào thanh tìm kiếm của Google, ngay lập tức sẽ thấy vô số dịch vụ làm tăng số lượng followers giá rẻ nhảy ra. Nơi thì quảng cáo bán Followers và Likes thật, hứa hẹn “giúp bạn nổi tiếng và thành công trên Facebook”; nơi thì cung cấp bảng giá thật chi tiết, như mua một ngàn like trong một tháng cho tất cả bài viết, giá dưới 500.000 đồng! Thôi, cái này ai quan tâm thì tự tìm hiểu, có lẽ không nên quảng bá cho họ.

Ở nước ngoài, có cả ngàn lý do để mua followers. Theo phóng sự của New York Times, với các nhân vật trong làng giải trí, số lượng người theo dõi quyết định độ thu hút của họ nên dựa vào đó họ mới ký được hợp đồng làm việc và sau đó, dựa vào số lượng người theo dõi thì các hợp đồng “tài trợ” nhãn hàng mới được định giá. Ví dụ, cũng đeo cái kính râm chụp ảnh đưa lên Facebook, nhưng người có 100.000 followers chỉ đòi chủ nhãn hàng trả 2.000 đô-la; còn người có 1 triệu followers có thể đòi giá 20.000 đô-la! Nhiều nhân vật nổi tiếng khác bỏ tiền mua followers vì áp lực công việc, vì bị so sánh với đồng nghiệp và để nâng cao uy thế.

Rất hy vọng ở nước ta, quảng cáo cho dịch vụ bán followers nó tràn lan như thế nhưng chắc ít ai mua. Có lẽ không ai dại gì bỏ tiền mua like cho các bài viết của mình (dù nơi quảng cáo cho giá đủ kiểu like khác nhau: kiểu buồn, kiểu haha, kiểu phẫn nộ, kiểu thả tim, kiểu wow!). Cứ hy vọng thế.

Dù sao, thông tin về followers dỏm này cũng an ủi phần nào cho nhiều người, lâu nay cứ ghen tức sao bạn mình nhiều người theo dõi thế; biết đâu hắn bỏ tiền ra mua cũng như cô bạn kia viết gì ra cũng được like ào ào, chắc cũng vừa ký mua, mức vài trăm like cho rẻ.

Còn nói nghiêm túc, cái thế giới ảo nó vừa có người thật vừa có xác ướp như thế thì không nên đặt cược vào nó mà quảng cáo cho tốn tiền. Ra một sản phẩm rồi cất công nhờ người nổi tiếng giới thiệu vài dòng, tốn bạc triệu với hy vọng một phần nhỏ trong hai triệu người đang theo dõi anh ta ghé mắt, biết đâu, đến cả 1,9 triệu là followers giả, đang sống vật vờ, chờ để like tiếp sản phẩm khác.


Box
Tờ The Economist tổng hợp giá cả phải trả cho người nổi tiếng khi nhờ họ quảng bá sản phẩm trên các mạng xã hội phổ biến, người có lượng theo dõi càng lớn thì tiền thù lao càng cao. Với những ai có từ 3 triệu đến 7 triệu người theo dõi, một đoạn quảng bá trên YouTube sẽ có giá bình quân là 187.500 đô-la; một bài ngắn trên Facebook giá chừng 93.750 đô-la; còn đăng trên Instagram hay Snapchat thì giá là 75.000 đô-la.

Saturday, July 28, 2018

Xin lỗi đi chứ!




Cứ tưởng tượng bạn là thí sinh kỳ thi THPT vừa rồi, dù quá dư điểm để được xét tốt nghiệp nhưng vẫn còn thiếu nửa điểm để vào được trường đại học mơ ước của bạn. 

Cảm giác bạn sẽ như thế nào khi biết có hàng trăm thí sinh như bạn được nâng điểm, không chỉ nửa điểm mà từ 1 đến 8,75 điểm mỗi bài thi. Phẫn nộ vì sự thiếu công bằng? Hoang mang vì không biết còn bao nhiêu bạn khác được nâng điểm? Thắc mắc làm sao trường đại học nơi bạn dự tuyển bảo đảm các thí sinh trúng tuyển đã không gian lận điểm?

Đến khi mọi việc lắng xuống, cảm giác phẫn nộ, hoang mang được thay thế bởi sự cay đắng, rằng người lớn đường như tìm cách đổ lỗi cho nhau; không ai chú ý đến người trực tiếp bị ảnh hưởng từ xì-căng-đan sửa điểm này để có người chịu trách nhiệm, đứng ra xin lỗi học sinh, phụ huynh và xã hội.

Hơn 900.000 thí sinh đăng ký dự thi THPT là đăng ký để được thẩm định một cách công bằng năng lực của các em. Vụ việc sửa khống điểm thi đã tác động lên tất cả; chắc chắn những em được điểm cao một cách bình thường vì học giỏi nay cũng cảm thấy ê chề vì có khả năng bị nghi ngờ, sao điểm cao thế! 

Những em thiếu điểm vào đại học luôn tự hỏi không biết có ai do được sửa điểm mà giành mất chỗ của mình. Những em ở các địa phương bị công luận đang nghi vấn kết quả sẽ bực tức vì bị rơi vào tình thế oan ức.

Thầy cô ở 63 tỉnh thành, chắc chắn đại đa số đã tham gia kỳ thi một cách nghiêm túc như bao năm nay, bỗng tất cả được lệnh rà soát lại như thể họ bị nghi ngờ gian lận thi cử. 

Phụ huynh sớm tối tất bật lo cho con trong một kỳ thi vất vả ắt càng bức xúc hơn hết khi có nơi nhờ vả để không cần mệt nhọc gì vẫn được nâng dư điểm vào đại học hàng đầu. Tất cả cần một lời xin lỗi từ đáy lòng của người đứng đầu ngành giáo dục.

Trong thiết kế một quy trình hay một công trình cụ thể, trách nhiệm của người phụ trách là rà soát để quy trình luôn hoàn thiện, công trình được triển khai đúng mục đích và hiệu năng. Cách phát biểu chung chung như kiểu nhà vệ sinh bệnh viện bẩn, giám đốc chịu trách nhiệm; để xảy ra phá rừng thì chủ tịch huyện chịu trách nhiệm… là chưa thấy trách nhiệm rà soát, điều chỉnh quy trình để tạo điều kiện cho mọi cấp trong hệ thống thực thi chức trách của mình. 

Tương tự như vậy, quy trình thi THPT rõ ràng có lỗ hổng, đã bị lợi dụng để nâng khống điểm – trách nhiệm của Bộ trưởng Bộ Giáo dục là nhanh chóng phát hiện ra lỗ hổng để từ đó mới có địa chỉ cụ thể mà rà soát.

Với các trường đại học, khi đã tin tưởng giao phó cho Bộ Giáo dục tổ chức kỳ thi mà kết quả được dùng để xét tuyển đại học, họ phải được bàn giao một kết quả chính xác, tin tưởng được. Với tình hình như hiện nay, họ cũng cần được xin lỗi vì kết quả bị nghi ngờ, sản phẩm đầu vào có thể không có chất lượng như ghi trên giấy chứng nhận.

Hiện nay trách nhiệm của Bộ Giáo dục, ngoài những giải pháp nhằm giải quyết việc nâng điểm khống, còn phải phục hồi lại niềm tin cho học sinh, phụ huynh, các trường đại học khi tuyển sinh. 

Để mất niềm tin chỉ cần một hai cán bộ giáo dục hư hỏng nhưng để xây dựng lại niềm tin cần cả nỗ lực của xã hội. 

Nhưng xã hội chưa thể bắt tay vào công cuộc phục hồi niềm tin khi chưa thấy một lộ trình kèm theo sự cam kết của Bộ Giáo dục, sửa đổi quy trình thi THPT như thế nào, cải cách việc xét tuyển như thế nào, gán lại giá trị đúng đắn cho kỳ thi THPT ra sao…



Giáo dục có vốn nước ngoài

Thở phào… nhưng chưa nhẹ nhõm Nguyễn Vạn Phú Giáo dục là một trong những lãnh vực nhận nhiều lời ta thán mỗi khi có hội nghị góp ý...