Monday, October 15, 2018

Giảm biên chế giáo viên


Bài toán giảm biên chế giáo viên

Hiện đang nảy sinh một nghịch lý, nhiều nơi đang thiếu giáo viên (theo Bộ Nội vụ, tổng cộng 29 tỉnh, thành đề xuất tuyển thêm hơn 40.000 người) nhưng không được tuyển thêm có nơi lại đang tìm cách cắt giảm 10% biên chế giáo viên như một bước quan trọng cụ thể hóa chủ trương sắp xếp lại các đơn vị sự nghiệp công lập giai đoạn trước năm 2021.

Nghịch lý này nói lên nhiều điều; trong đó quan trọng nhất là nguyên tắc cắt giảm bất kỳ biên chế nào cũng chỉ thành công khi có kế hoạch chuyển đổi việc làm cho các biên chế bị cắt giảm. Thập niên 1990 hàng loạt cán bộ, viên chức rời bỏ việc làm trong biên chế nhà nước và ngay lập tức được thị trường lao động đón nhận bởi chủ trương khuyến khích sự ra đời và lớn mạnh của khu vực kinh tế tư nhân và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Tương tự, chủ trương “giảm tối thiểu 10% biên chế sự nghiệp hưởng lương từ ngân sách nhà nước” phải gắn liền với “giảm mạnh về đầu mối, tối thiểu bình quân cả nước giảm 10% đơn vị sự nghiệp công lập”.

Giảm như thế đòi hỏi phải có những chương trình rất cụ thể, chẳng hạn cổ phần hóa, chuyển đổi các đơn vị sự nghiệp như các hãng phim, nhà hát cải lương, trung tâm ca nhạc nhẹ, đoàn nghệ thuật múa rối, đoàn xiếc, trung tâm thông tin triển lãm, các viện bảo tàng, thư viện… Hiện nay chỉ mới cổ phần hóa hãng phim truyện Việt Nam mà cũng đã trầm trầy trầm trật, phải thanh tra và thay nhà đầu tư. Nếu không có một chương trình tổng thể, một nhạc trưởng chỉ huy việc chuyển đổi, làm sao trông mong giảm được 10% biên chế nếu không bằng cách dễ nhất là giảm giáo viên?

Một minh họa khác, chính Tổng giám đốc VTV Trần Bình Minh cho biết tại buổi làm việc giữa Thủ tướng Chính phủ và Bộ Thông tin-Truyền thông, hiện nay nhân lực làm trong ngành truyền hình đang thừa nhiều quá. Thử nghĩ vì sao tỉnh thành nào cũng có đài truyền hình để cuối cùng tính ra cả nước có đến 67 đài truyền hình và trung tâm truyền hình (một đài truyền hình địa phương trung bình có 100 người, nhiều hơn là 150 -200 người)! Phải có chủ trương chuyển các đài truyền hình này thành một bộ phận gọn nhẹ chuyên lo video trong một nền tảng đa phương tiện chủ yếu dựa vào Internet thì mới giải quyết được tình trạng thừa nhân lực như ông Minh nói.

Theo kết quả tổng điều tra kinh tế năm 2017 mà Tổng cục Thống kê mới công bố, so với năm 2012, số đơn vị hành chính, sự nghiệp tăng 2,3% lên 143.700 đơn vị và lao động tăng 11,3% lên 3,8 triệu người. Nếu tách ra, chúng ta có 34.800 đơn vị hành chánh (gần 1 triệu người); 73.600 đơn vị sự nghiệp (gần 2,5 triệu người); 35.100 đơn vị thuộc tổ chức chính trị, đoàn thể, hiệp hội (trên 237.000 người).

Trong các đơn vị sự nghiệp, chiếm tỷ lệ lớn nhất vẫn là ngành giáo dục (61,7% về cơ sở, 68,7% về lao động), sau đó là ngành y tế tỷ lệ tương ứng là 19,3% và 17%. Các ngành khác chỉ có tỷ lệ nhỏ. Chính vì vậy khi triển khai chủ trương “giảm tối thiểu 10% biên chế sự nghiệp hưởng lương từ ngân sách nhà nước” đến năm 2021 thì các địa phương biết nhìn vào đâu nếu không nhìn vào ngành giáo dục? Thế nhưng chú ý vào cụm từ “hưởng lương từ ngân sách nhà nước” chúng ta sẽ thấy chỉ cần các đơn vị sự nghiệp như các chi cục thú y, chi cục bảo vệ thực vật, trung tâm khuyến nông, trung tâm công nghệ thông tin, cảng vụ… chuyển đổi mô hình hoạt động, tự chủ về tài chính, thậm chí chỉ cần chuyển đổi quan hệ lao động thì mục tiêu giảm 10% biên chế vẫn có thể đạt được mà không cần nhìn vào ngành giáo dục như hiện nay.

Quay trở lại vấn đề giảm biên chế giáo viên, một điểm khác có thể rút ra là việc tuyển dụng giáo viên lại không nằm trong thẩm quyền của ngành giáo dục mà nằm trong tay chính quyền địa phương. Để thay đổi điều này, trách nhiệm chính là ở Bộ Giáo dục và Đào tạo. Bộ phải có những nghiên cứu, có ứng dụng công nghệ thông tin, để dự báo cho chính xác nhu cầu giáo viên của từng cấp học, từng địa phương, xác định rõ cung cầu giáo viên từng thời điểm để từ đó chuyển thông tin chính xác về các sở Giáo dục – Đào tạo ở từng tỉnh thành, các phòng Giáo dục – Đào tạo ở từng huyện để những nơi này, trong giai đoạn đầu, tham mưu cho chính quyền địa phương trong tuyển dụng hay giảm biên chế giáo viên. Chính quyền địa phương là nơi trả lương cho giáo viên nên họ có quyền tuyển dụng hay sa thải nhưng Bộ phải đòi hỏi thông tin đầu vào của mình phải được đáp ứng – bằng không chính quyền trung ương sẽ cắt giảm ngân sách cho địa phương đó theo đề nghị của Bộ.

Từng bước Bộ phải xây dựng cơ sở dữ liệu để quản lý ít nhất là giáo viên cấp phổ thông trung học để có thể tiếp nhận, điều động giáo viên từ địa phương thừa đến địa phương thiếu. Giáo dục mà làm theo đơn vị huyện thì khó lòng điều chuyển giáo viên thừa ở huyện này đến huyện khác đang thiếu nên vai trò của Bộ cũng phải là đầu mối nắm rõ thông tin cụ thể, chi tiết đến từng giáo viên khi đó mới đòi được quyền can thiệp vào quy trình tuyển dụng nhân lực cho ngành.  

Điểm thứ ba rút ra từ nghịch lý nơi thừa nơi thiếu giáo viên là chuyện biên chế hay hợp đồng. Vướng mắc hiện nay phần nào cũng do chúng ta quá xem nặng chuyện biên chế trong khi không thấy được biên chế đang là rào cản cho ngành giáo dục cải tổ chất lượng đội ngũ giáo viên của mình. Những giáo viên không theo kịp các cải cách của ngành không bị đào thải theo quy luật để nhường chỗ cho thế hệ mới được đào tạo bài bản hơn.

Ngay cả đề xuất tuyển 40.447 giáo viên của 29 tỉnh thành chỉ vướng mắc ở khía cạnh biên chế chứ còn ký hợp đồng lao động bình thường như những ngành khác thì đâu có vấn đề gì – địa phương đã đề xuất, ắt đã có kinh phí để trả lương. Kết hợp với thông tin từ Bộ về nhu cầu giáo viên, chuyện tuyển thêm giáo viên cho phù hợp với lượng học sinh tăng lên là hoàn toàn có thể giải quyết dễ dàng. Việc chạy chọt để có một chỗ dạy thực chất cũng vì quan niệm “biên chế nhà nước” chứ dùng quan hệ hợp đồng để chi phối, ắt nạn chạy việc không đến nỗi như dư luận phản ánh. Hiện nay số giáo viên dạng hợp đồng chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ, chủ yếu ở cấp tiểu học và trung học cơ sở; hầu hết giáo viên cấp phổ thông trung học đều nằm trong biên chế.  

Để dư luận hiểu đúng bản chất của câu chuyện biên chế, thiết nghĩ không nên sử dụng cụm từ “bỏ biên chế” mà chỉ nói rõ giáo viên không phải là công chức hay viên chức nhà nước. Giáo viên là giáo viên cùng với những trách nhiệm và quyền lợi mà nhà nước phải lo như một đội ngũ nhân lực quan trọng để đào tạo những thế hệ công dân tương lai. Thậm chí sửa luật để có thêm một danh xưng trong hành chính cho danh chính ngôn thuận cũng không phải là vấn đề lớn.


Saturday, October 13, 2018

Phạt tiền trong giáo dục


Phạt sao cho đúng

Giới giáo chức lại xôn xao vì một dự thảo xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục, nghe đâu mức phạt tối đa đối với cá nhân lên đến 50 triệu đồng. Thật ra các báo khi đưa tin đều nhầm lẫn về dự thảo này.

Đây là một nghị định được dự thảo để thay thế Nghị định số 138/2013/NĐ-CP ngày 22/10/2013. Nói cách khác chuyện phạt dạy thêm không phép, phạt hành vi xúc phạm danh dự hay thân thể nhà giáo là đã có từ năm năm nay chứ không phải là tin mới.

Nhìn qua thì thấy dự thảo này mới so với Nghị định mà nó thay thế ở chỗ tăng mức phạt lên, tăng cả tiền lẫn xử phạt bổ sung như tước quyền sử dụng giấy phép, chia nhỏ các hình thức vi phạm, bổ sung các hành vi vi phạm…

Thế nhưng ở đây có một chuyện trái khoáy: Nghị định xử phạt vi phạm hành chính thường phải dựa vào luật; chẳng hạn, luật quy định giáo viên không được “ép buộc học sinh học thêm để thu tiền” thì khi đó Nghị định mới đưa ra mức phạt để chế tài các hành vi vi phạm điều này. Hiện nay Luật Giáo dục (sửa đổi) vẫn còn nằm trên bàn các đại biểu Quốc hội, đã được đem ra tranh luận nhiều lần, đã có đến 5 bản dự thảo vẫn chưa ngả ngũ. Luật gốc chưa có đã vội vàng đưa ra dự thảo nghị định xử phạt hành chính, làm sao biết được hành vi nào là vi phạm để xử phạt đây?

Ở đây chỉ xin lấy một ví dụ minh họa từ dự thảo Luật Giáo dục (sửa đổi) lần thứ 5 hiện có trên trang Dự thảo Online của Quốc hội. Trong các hành vi mà nhà giáo không được làm ở điều 69, có chuyện “ép buộc học sinh học thêm để thu tiền”. Như thế Nghị định chỉ có thể xử phạt hành vi “ép buộc học sinh học thêm để thu tiền” chứ làm sao có thể quy định: “Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với giáo viên đang hưởng lương từ quỹ lương đơn vị sự nghiệp công lập tổ chức dạy thêm ngoài nhà trường”. Nói như vậy hóa ra giáo viên trường tư thì dạy thêm thoải mái, giáo viên trường công lại bị cấm!

Ép buộc học sinh của mình đi học thêm ở nhà mình là một hành vi đáng lên án, phạt bao nhiêu cũng được, phạt càng nặng, phụ huynh càng đồng tình. Nhưng viết như dự thảo không lẽ bất kỳ giáo viên có biên chế nào tổ chức dạy thêm ngoài nhà trường điều bị phạt, kể cả dạy cho học sinh trường khác, kể cả dạy thêm ở các lớp tình thương, kể cả dạy thêm cho con em hàng xóm không lấy tiền? Đã gọi là quy định pháp luật thì phải viết cho chặt chẽ, bao quát hết mọi tình huống. Trong đời thật không hiếm trường hợp cô giáo, thầy giáo tổ chức dạy thêm ở nhà cho các em thất học, ra đời sớm, các em con nhà nghèo không đủ khả năng đi học chính thức. Không lẽ đi phạt những thầy cô này chỉ vì soạn dự thảo không rõ ràng, thiếu chặt chẽ?

Rất có thể chúng ta sẽ đồng tình với quy định: “Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với hành vi dạy thêm cho học sinh tiểu học hoặc học sinh đã học hai buổi trên ngày” bởi tệ nạn o ép học sinh nhỏ tuổi, luôn sợ và nghe lời thầy cô để ép học thêm không cần thiết. Thế nhưng viết như dự thảo hàm ý giáo viên nào dạy thêm cho học sinh không phải là tiểu học hay không học ngày hai buổi là ổn, không bị phạt? Hiểu như thế là ngược với các quy định khác về các hành vi vi phạm chuyện dạy thêm khác.

Hay với quy định này: “Phạt tiền từ 6.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng đối với hành vi cắt giảm nội dung trong chương trình giáo dục phổ thông chính khoá để đưa vào nội dung dạy thêm, dạy thêm trước những nội dung trong chương trình giáo dục phổ thông chính khoá”. Rõ ràng ai cũng sẽ đồng tình chuyện phạt giáo viên nào nhẫn tâm cắt giảm nội dung khi dạy chính khóa để ép học sinh đi học thêm mới được dạy đầy đủ. Thế nhưng với vế sau của quy định “dạy thêm trước những nội dung trong chương trình giáo dục phổ thông chính khoá” làm sao phạt được và tại sao lại phạt. Giả thử giáo viên được cấp phép dạy thêm một cách đàng hoàng, họ dạy cho học sinh bằng cách đi trước chương trình một hai bài cũng không được?  Vì sao?

Nghị định cũ quy định về các vi phạm trong chuyện dạy thêm rất gọn nên chặt chẽ. Đó là dạy thêm không đảm bảo cơ sở vật chất theo quy định; không đúng đối tượng; không đúng nội dung đã được cấp phép; khi chưa được cấp phép. Chỉ chừng đó thôi chứ không chẻ nhỏ ra như dự thảo nghị định thay thế.

Khi các luật làm nền tảng cho nghị định xử phạt hành chính chưa thay đổi hay không thay đổi các quy định liên quan đến chuyện dạy thêm thì không được tự tiện thay đổi nội dung hành vi bị xử phạt chỉ nhằm để tiện lợi cho việc quản lý hành chính của mình.



Nhà hát giao hưởng và “post-truth”


Nhà hát giao hưởng và “post-truth

Trong một bài trước đây, chúng ta đã có dịp làm quen với khái niệm “hậu sự thật” (post-truth), là tình huống khi người ta không còn dựa vào dữ kiện khách quan để minh định đúng sai mà mọi tranh luận đều dựa vào xúc cảm hay niềm tin của cá nhân. Trong thực tế hiện tượng “hậu sự thật” diễn ra ngày càng rõ nét, đang chi phối các dòng tự sự của xã hội.

Lấy ví dụ cuộc tranh cãi nên hay không nên bỏ ra hơn 1.500 tỷ đồng xây nhà hát giao hưởng tại Thủ Thiêm. Ở đây không dám nói bên nào đúng bên nào sai; chúng ta chỉ xem “hậu sự thật” chi phối lập luận của hai bên như thế nào?

Rất ít ý kiến dựa vào “facts” (dữ kiện khách quan) – những “facts” rất quan trọng có thể làm chuyển hướng cuộc tranh luận. Chẳng hạn, không thấy ai lập luận, ngày xưa, tức từ năm 1999, TPHCM đã quyết định xây nhà hát giao hưởng tại số 23 Lê Duẩn – nay khu đất này bán đi thì tiền thu được (gần 1.700 tỷ đồng) phải dành cho việc xây nhà hát giao hưởng (bởi lý do bán trụ sở Công ty Xổ số kiến thiết là để xây nhà hát). Đó là xuất phát điểm mà thiết nghĩ mọi người phải chú ý đến. Nếu có tranh cãi, chỉ nên tranh cãi xem xây ở nơi nào là hợp lý (chẳng hạn có nên xây ở Công viên 23-9 như kế hoạch từ năm 2009 hay dời sang Thủ Thiêm như quyết định từ năm 2016).

Các “facts” khác cũng quan trọng như sự việc Nhà hát giao hưởng nhạc vũ kịch TPHCM là một thực thể đã tồn tại từ năm 1993, hiện vẫn hoạt động biểu diễn khá thường xuyên. Không ai chịu đi hỏi họ biểu diễn tại Nhà hát Thành phố thì có trở ngại gì không, số khách xem nhiều hay ít. Ví dụ vào ngày 28/10 sắp tới Nhà hát Giao hưởng có chương trình nhạc kịch “Con Dơi” giá vé từ 350.000 đến 900.000 đồng; tháng 11 có vũ kịch Giselle nổi tiếng… Giả dụ có người đến dự, chụp được khán phòng đông cứng chật nít hay vắng hoe chỉ có vài người – có lẽ cuộc tranh luận có nên xây nhà hát giao hưởng không sẽ không mắc bẫy “post-truth”.

Tình hình “hậu sự thật” đậm nét ở buổi đầu cuộc tranh luận khi nó diễn ra chủ yếu trên mạng xã hội – đến khi chuyển sang báo chí chíng thống, tính “hậu sự thật” giảm dần vì nhiều báo cũng cố công đi tìm dữ kiện khách quan, phỏng vấn được những người trong cuộc.

Tranh luận có nhiều mục đích; những cuộc tranh luận hữu ích đều cố tìm giải pháp. Và giải pháp chỉ xuất hiện nếu dựa vào “dữ kiện khách quan” chứ còn dựa vào xúc cảm, tức rơi vào tình huống “hậu sự thật” thì có thể thuyết phục người nghe một bên, gây bức xúc ở bên còn lại chứ đích đến là giải pháp ngày sẽ càng xa vời.

Dòng thời sự hàng ngày luôn có các tình huống post-truth như thế khi “fact” được đưa ra nửa vời hay cắt khúc để tô đậm thiên kiến đã có sẵn.

Nếu bỏ công nghe ông Trump nói về việc cử người thay đại sứ Mỹ tại Liên hiệp quốc vừa mới từ chức, sẽ thấy ông ta đâu có ý định cử con gái là Ivanka đâu. Có ai đó nhắc đến tên Ivanka, ông Trump bèn nói, đại ý, con tôi mà làm thì ngon lành rồi nhưng thiên hạ sẽ chê cười đó là nạn gia đình trị. Ý này được nói tới nói lui nhiều lần. Thế mà nhiều báo rút tít “Trump nói không ai có năng lực bằng con tôi khi thay Nikki Haley làm đại sứ tại LHQ”; “Trump nói Ivanka sẽ rất năng động ở LHQ”; “Trump tin con gái Ivanka sẽ ‘xuất sắc’ nếu làm đại sứ LHQ”; “Trump tuyên bố con gái ông là người phù hợp nhất cho vị trí đại sứ Mỹ tại LHQ”. Dĩ nhiên trong phần đưa tin, hầu hết đều tường thuật đúng những gì ông Trump nói về gia đình trị nhưng rút tít như thế (các tít này được chia sẻ mạnh trên mạng xã hội) là không đúng, không sòng phẳng, là một dạng “hậu sự thật”.

Một ví dụ ngược lại cũng liên quan đến ông Trump. Dẫn nguồn một khảo sát của Media Research Center cho thấy 92% tin tức về Donald Trump trên các đài ABC, CBS và NBC là tiêu cực, ông Trump bèn nhắc lại kết luận này và kèm một lời nói thêm - “fake news”. Tin giả như hầu hết mọi người đều thừa nhận là tin nói không thành có, tin bịa đặt, tin sai lệch – tức phải dựa trên “dữ kiện khách quan” đối chiếu với thực tế mới có thể xác định một tin có phải là “fake news” hay không. Đằng này với ông Trump, tin giả đồng nghĩa với tin tiêu cực, tin xấu, tin nói không hay về ông. 

Cách dán nhãn mọi ý kiến, mọi nhận định không hợp ý mình là “tin giả” có lẽ là một minh họa rõ nét nhất cho hiện tượng “hậu sự thật” mà xã hội hiện đại đang chứng kiến với quy mô chưa từng có.

Cập nhật: Xin bổ sung một "fact" rất thú vị của nhà báo Lưu Trọng Văn: Giá trị thật của nhà hát giao hưởng xây ở Thủ Thiêm phải cộng thêm giá trị đất mà ông tính đâu khoảng 2.400 tỷ đồng, tức cộng lại phải là 3.9000 tỷ đồng.



Cố tình nói chưa hết ý


Cố tình nói chưa hết ý

Nhiều người khen bài “Surprising Truths About Trade Deficits” của GS Gregory Mankiw là hay, dễ đọc. Đúng là bài này phê phán quan điểm thương mại của Tổng thống Donald Trump, nhất là về thâm hụt thương mại một cách dễ hiểu, thậm chí học sinh trung học đọc cũng hiểu được cặn kẽ ý tác giả. Có lẽ tác giả chọn lối viết này để nhỡ Trump có đọc thì cũng hiểu một giáo sư kinh tế đại học Harvard muốn nói gì.

Tuy nhiên, tác giả đã nói không hết ý. Hay nói cách khác, để chê Trump hiểu sai về thâm hụt thương mại, lẽ ra tác giả phải nói thẳng, đây là lợi thế trời cho của Mỹ, có khùng mới đòi giải quyết thâm hụt. Lẽ ra tác giả phải mắng Trump, ở đó mà than thâm hụt, nếu không thâm hụt, thế giới đâu thèm dùng đô-la Mỹ làm đồng tiền dự trữ như hiện nay!

Đầu tiên xin tóm tắt ý chính của bài “Surprising Truths About Trade Deficits”: Tổng thống Trump thường lẫn lộn, cho rằng Mỹ chịu thâm hụt mậu dịch tức Mỹ đang thua thiệt. Mankiw bác bỏ bằng cách ví von chuyện gia đình ông đi ăn tối tại tiệm không mua cuốn sách nào của ổng, tức ông đang chịu thâm hụt với tiệm ăn này. Điều này không sao cả vì ông có thặng dư với nơi khác như báo NYT đang trả nhuận bút cho ông cao gấp nhiều lần tiền ông trả để mua báo.

Xét tổng thể thương mại với mọi nước, một sự thâm hụt chỉ đáng lo khi nước chịu thâm hụt không đủ khả năng chi trả trong tương lai cũng như một gia đình làm ra thì ít, ăn tiêu lại nhiều. Nếu gia đình này mua xe hơi, tức chịu thâm hụt lớn nhưng không đáng lo nếu họ có khả năng trả dần nên cả nước cũng vậy. Dù sao thâm hụt tổng thể của một nước là do cách chi tiêu và tiết kiệm của nước đó chứ đâu phải do các đối tác thương mại đang có thặng dư?

Lập luận trên có lẽ đúng với hầu như mọi nước trên thế giới – trừ Mỹ. Mỹ có một lợi thế trời cho, một đặc quyền hiếm có – xách tiền của chính mình (tức đồng đô-la Mỹ) trực tiếp đi mua hàng khắp nơi trên thế giới chứ không cần chuyển qua đồng tiền trung gian nào cả. Nước khác chịu thâm hụt trước sau khi cũng chịu sức ép lên đồng tiền của nước mình còn Mỹ thì không. Các nước nhận tiền của Mỹ để bán hàng cho Mỹ phải cố gắng duy trì giá trị của nó, bằng không họ sẽ chịu thua thiệt.

Nói cách khác, Mỹ phải chọn lựa giữa hai cái: một là thâm hụt và đồng tiền nước mình được sử dụng làm đồng tiền dự trữ cho thế giới; hai là giảm thâm hụt thì thế giới đâu có đủ đô-la Mỹ để tạo thanh khoản. Chọn một trong hai chứ không thể chọn cả hai. Mỹ luôn phải đi vay về để chi tiêu – họ làm điều đó một cách khoái trá vì chi phí in tờ bạc 100 đô-la màu xanh ít hơn rất nhiều so với mớ hàng hóa tờ 100 đô-la đó có thể đổi được.


Tuesday, September 25, 2018

Quả bóng trong chân các trường đại học


Quả bóng trong chân các trường đại học

Nguyễn Vạn Phú

Để giải quyết các vướng mắc hiện nay của kỳ thi trung học phổ thông, việc đầu tiên là chấm dứt cách nhìn đây là kỳ thi “2 trong 1” vì thi cử chứ đâu phải bán hàng mà cứ rao “2 trong 1”! Nhưng như thế thì các trường đại học phải làm gì để thoát tình trạng hụt hẫng khi không thể dựa vào điểm thi?

Trả kỳ thi THPT quốc gia về đúng vai trò của nó là dùng để xét tốt nghiệp, ngay lập tức hàng loạt vấn đề sẽ được giải quyết. Đề thi không còn bị chê là quá khó, không phải khoác lên mình nó cả chức năng vừa kiểm tra kiến thức vừa đánh giá năng lực. Động cơ tiêu cực tìm mọi cách để sửa điểm, nâng điểm cũng bị triệt tiêu khi điểm thi không còn là yếu tố dùng để chạy đua vào các trường đại học hàng đầu nữa. Bộ Giáo dục có thể tính toán để mức điểm thi cao hơn mọi năm và nhờ đó giảm tỷ trọng điểm học bạ trong cơ cấu điểm xét tốt nghiệp. Vấn đề còn lại là gánh nặng bây giờ rơi vào các trường đại học, làm sao để tuyển sinh khi không còn dựa hoàn toàn vào kết quả kỳ thi THPT?

Thật ra, Luật Giáo dục đại học đã quy định khá rõ từ mấy năm nay: trường đại học có quyền quyết định phương thức tuyển sinh và chịu trách nhiệm về công tác tuyển sinh trong đó Luật cũng nói: Phương thức tuyển sinh gồm thi tuyển, xét tuyển hoặc kết hợp giữa thi tuyển và xét tuyển. Không ai bắt trường đại học phải lấy điểm thi tốt nghiệp THPT để xét tuyển thí sinh đủ tiêu chuẩn vào trường mình.

Chúng ta thường nhìn từ góc cạnh thí sinh chen nhau vào cổng trường đại học chứ ít ai nhìn từ góc cạnh các trường đại học cạnh tranh nhau hút học sinh tốt nghiệp vào trường mình. Đó là bởi quán tính suy nghĩ trường tốt chọn học sinh có điểm cao trong khi đúng ra việc tuyển sinh đại học phải là sự cân nhắc từ cả hai phía để mục đích cuối cùng là tìm sự “hòa hợp”, học sinh vào đúng trường phù hợp với con người của mình nhất và trường chọn đúng học sinh có tiềm năng đóng góp xây dựng nền tảng danh tiếng của nhà trường nhất.

Nhìn từ góc độ đó mới thấy hầu hết các trường đại học đã lãng tránh trách nhiệm khi chỉ dùng duy nhất điểm thi THPT hay điểm học bạ để xét tuyển; chỉ một ít trường tổ chức kỳ thi tuyển sinh riêng cho mình và hầu như không ai nghĩ đến chuyện xét tuyển bằng các phương thức trực tiếp như phỏng vấn. Giả thử đề thi THPT sang năm dễ hơn nhiều vì chỉ để xét tốt nghiệp, các trường đại học làm sao dựa vào điểm thi để tuyển đúng sinh viên cho mình? Với các trường nổi tiếng luôn thu hút học sinh, nếu ai cũng điểm cao như nhau, làm sao biết thực học của các em để chọn đúng; làm sao tránh tình trạng chỉ tuyển được các em điểm cao nhờ được cộng nhiều loại điểm ưu tiên? Với các trường bình thường, dựa vào điểm tức đã bỏ qua thế mạnh của mình, không có những phương thức chiêu dụ học sinh, không tạo ra được sự cạnh tranh để hút học sinh về cho mình.

Tuyển sinh bằng điểm thi THPT sẽ dẫn tới những bất hợp lý khó lòng giải tỏa. Đăng ký học ngành kinh tế nhưng điểm xét tuyển là Toán, Lý, Hóa thì xem như hỏng việc vì những kỹ năng làm nền tảng cho một người học tốt kinh tế học lại là ngoại ngữ, đọc hiểu, viết lách, thuyết trình, suy luận lô-gich, kể cả hiểu biết về văn hóa. Sinh viên tương lai của một trường đại học sư phạm phải có lòng yêu trẻ, say mê truyền thụ kiến thức nhưng đồng thời phải có kỹ năng giao tiếp. Những đặc điểm nói lên cá tính từng con người làm sao bộc lộ được qua các con số điểm thi vô hồn. Chính vì thế mặc dù vẫn còn dựa vào các kỳ thi chuẩn hóa kiến thức nhưng các trường đại học ở nước ngoài đâu tranh nhau lấy theo thứ tự từ điểm cao nhất lấy xuống? Có những em điểm thi cao vẫn bị từ chối trong khi cũng trường đó lại nhận em điểm thi thấp hơn nhiều.

Thực tế dù còn ít nhưng một số trường sử dụng một kỳ thi đánh giá năng lực riêng của mình rồi vừa dựa một phần vào điểm thi THPT và một phần vào điểm thi của kỳ thi riêng đã tạo ra những chuyển biến bất ngờ. Các trường này trước đây vất vả lắm vẫn không tuyển đủ sinh viên theo mức điểm chuẩn trường đưa ra nay lại dễ dàng đạt con số chỉ tiêu tuyển sinh. Có lẽ khi đặt học sinh trước một thử thách là kỳ thi gắn liền với tên tuổi của trường các em sẽ có động lực mạnh hơn khi chọn lựa. Có lẽ học sinh muốn được đánh giá đúng đắn, chứ không còn tin vào điểm thi tốt nghiệp bị tác động bởi nhiều yếu tố khác.

Một trong những lý do các trường đại học đưa ra để lãng tránh tổ chức tuyển sinh theo con đường riêng của mình là thiếu nguồn lực, hay nói thẳng ra là không có tiền để làm. Một việc rất dễ mà hầu như tuyển sinh đại học hay sau đại học nào ở nước ngoài đều làm là bắt thí sinh nộp kèm hồ sơ một bài luận về một đề tài nào đó. Cái này đâu tốn kém nhiều trong khi hiệu quả đo lường năng lực, cá tính, sở thích, năng khiếu của thí sinh là rất cao. Một thí sinh điểm thi cao nhưng bài luận viết cẩu thả, sai chính tả, diễn đạt ý không rõ ràng, tuyển vào cũng khó trở thành sinh viên giỏi. Một thí sinh với bài luận dí dỏm, có óc hài hước, có tầm nhìn bao quát nhiều lúc chính là nhân vật trường đang cần. Một em nhờ người lớn viết theo kiểu văn mẫu bay bổng sẽ bị phát hiện ngay.  

Để khỏi ngồi than thở về trình độ đầu vào của các khóa đào tạo, các trường phải chủ động tìm cách tuyển sinh riêng cho mình, nhất là trong bối cảnh sẽ có những thay đổi về quan điểm kỳ thi THPT. Có bài thi năng lực riêng, yêu cầu viết bài luận, kể về các hoạt động xã hội hay trực tiếp phỏng vấn – chọn các nào là tùy theo điều kiện của từng trường nhưng tự chủ đại học phải bắt đầu từ chuyện tuyển sinh.



Saturday, September 8, 2018

Post-truth là gì?


Cái bẫy “hậu sự thật”

Nguyễn Vạn Phú

Giả sử bạn vướng vào một cuộc tranh luận trên mạng giữa một bên nói chương trình đào tạo thạc sĩ chống tham nhũng là chuyện tào lao, không cần thiết, chỉ mang tính phô trương và bên kia cho rằng một chương trình như thế là không thể thiếu vì sẽ trang bị kiến thức được hệ thống hóa về tham nhũng, các biểu hiện, các giải pháp mà quản trị nhà nước cần nắm. 

Bạn bỏ công tìm tòi và đóng góp một bài dài vào cuộc tranh luận về các chương trình tương tự mà các nước khác đã tổ chức, kể cả mục đích của việc đào tạo, việc làm kỳ vọng sau tốt nghiệp... Ý kiến của bạn rơi vào khoảng không; hai bên tiếp tục tranh cãi, không thèm đếm xỉa đến những số liệu công phu bạn đưa ra.

Đó là một tình huống có thể dùng để minh họa cho một khái niệm mới: hậu sự thật, hậu chân lý (post-truth) mà thế giới đang bàn tán nhất là sau khi tin giả xuất hiện khắp nơi. Chữ “hậu” ở đây mang nghĩa vượt lên trên, vượt qua, bỏ lại đằng sau… ý nói sự thật là không quan trọng bằng cái đằng sau sự thật. 

Hậu sự thật là một tình huống khi người ta không còn dựa vào dữ kiện khách quan để minh định đúng sai mà mọi tranh luận đều dựa vào cảm tính, vào xúc cảm nảy sinh và dẫn dắt luồng suy nghĩ. Một khi dư luận hình thành do các hô hào đánh vào lòng yêu ghét, giận dữ, thương cảm chứ không phải từ sự thật, đó là một xã hội hậu chân lý!

Nhân vật được nhắc đến nhiều nhất mỗi khi bàn đến “post-truth” là Tổng thống Mỹ Donald Trump. Với ông Trump, hậu sự thật đến từ cả hai phía. Một bên thì báo chí Mỹ săm soi vào tất cả các phát biểu của ông, đếm ra bao nhiều lời nói sai sự thật hay gây nhiễu thông tin (Washington Post đếm trong 466 ngày nhậm chức, ông Trump có 3.001 tuyên bố kiểu như thế, trung bình 6,5 phát biểu mỗi ngày!). 

Bên kia ông Trump liên tục viết các câu chê bai báo chí là “fake news” (tin giả); ví dụ sau khi đưa ra những con số chứng tỏ tỷ lệ thất nghiệp ở Mỹ đang xuống mức thấp kỷ lục, GDP đăng tăng cao nhất… Trump dè bỉu báo chí cứ chăm chăm vào tin xấu mà không chịu thừa nhận thực tế khách quan này. Nhìn vào không gian chính trị Mỹ theo cách đó dường như sẽ thấy hai tháp ngà bọc bởi những bong bóng khổng lồ, bên trong ồn ào tiếng cãi vã nhưng không lọt nổi ra ngoài chứ chưa nói đến thấm vào tháp ngà bên kia. Đó là những quả bóng “post-truth”.

Mạng xã hội là nơi hậu sự thật thắng thế, lan tràn. Trong khi báo chí còn phải qua nhiều tầng nấc kiểm chứng, xác minh thông tin trước khi đăng, bất kỳ ai cũng có thể dùng mạng xã hội để lôi kéo người khác tin theo câu chuyện của mình, bất kể sự thật. 

Ai trong chúng ta từng dùng mạng xã hội đều đã có lần phẫn nộ, thương cảm, giận dữ, vò đầu bứt tai vì bức xúc trước một câu chuyện nào đó mà sau này bị phát hiện là không chính xác. Cũng may là với đa số người dùng, sự thật vẫn còn khả năng vượt thắng; cảm xúc sẽ bị chế ngự khi biết sự thật. Nhưng xu hướng bất chấp sự thật để tiếp tục giận dữ, bức bối một cách cảm tính trong một tình huống hậu sự thật là có thật và ngày càng lan rộng.

Tuy nhiên, hậu sự thật là một khái niệm buông xuôi, phó mặc cho xúc cảm chi phối đến nhận thức trong khi thực tế vẫn cần các bên thừa nhận nhiều chân lý làm nền tảng, bộ khung và chất kết dính cho xã hội hiện đại. Hậu sự thật chỉ có thể xuất hiện trong một số tình huống và để khỏi rơi vào cái bẫy hậu sự thật, phải làm cho các tình huống này ngày càng hẹp lại. 

Trong quá trình này kỹ năng kiểm chứng thông tin để củng cố sự thật, bác bỏ thông tin cố ý làm cho sai lệch là kỹ năng mới, rất cần thiết. Và quan trọng nhất là đừng xem hậu sự thật như một điều hấp dẫn, lôi cuốn đầy ma mị - buông sự thật để cùng tác động vào tình cảm như đối thủ tranh luận là một chọn lựa dễ theo nhưng sẽ không đi đến đâu vì tách rời chân lý.

Có thể trông chờ báo chí chính thống để ngăn đà tụt dài vào xã hội hậu sự thật được không? Đó là vai trò của báo chí từ xưa đến nay với điều kiện chúng ta đừng tạo bộ lọc để chọn nhận tin này và đóng cửa với tin kia. Con người có xu hướng thích đọc những gì họ muốn nghe và lướt qua hay ngó lơ những điều không muốn nghe. Ngày xưa thì khó hơn vì dù sao phải đọc cả tờ báo hay xem trọn chương trình thời sự. Nay thì dễ hơn nhiều khi có những nơi chọn tin giùm bạn như cái dòng cấp tin trên Facebook sẽ trao cho bạn tin bạn muốn đọc hay bạn bè bạn muốn chia sẻ. 

Người muốn toàn tin xấu sẽ nhận toàn tin xấu; người trông chờ tin tốt sẽ tràn ngập tin tốt – khỏi cần băn khoăn. Mở rộng cõi lòng để đón nhận tất cả mới mong trụ lại ở thế giới này, không bị lôi xuống vòng xoáy của một thế giới hậu sự thật.



Wednesday, August 29, 2018

Nhìn nơi khác khi tìm cách thu


Nhìn nơi khác khi tìm cách thu

Dai dẳng một địa chỉ nhiều nơi cứ chăm chăm nhắm đến mỗi khi nghĩ cách thu tiền, nhất là tiền thuế: tài khoản ngân hàng. Khi đề xuất sửa đổi bổ sung Luật Quản lý thuế, Bộ Tài chính đưa vào dự thảo nội dung luật sẽ giao cho Bộ Tài chính phối hợp với Ngân hàng Nhà nước để hướng dẫn các ngân hàng thương mại trước khi chuyển tiền thanh toán từ các tổ chức, cá nhân trong nước cho các bên cung cấp dịch vụ nước ngoài phải khấu trừ số thuế mà bên cung cấp dịch vụ nước ngoài phải nộp vào ngân sách.

Hiện nay những doanh nghiệp chạy chiến dịch quảng cáo trên Facebook, Google, YouTube đều phải tự khấu trừ thuế nhà thầu (gồm 5% thuế thu nhập doanh nghiệp và 5% thuế giá trị gia tăng) trước khi chi trả cho Facebook hay Google. Động lực ở đâu để họ khấu trừ? Đó là bởi nếu làm đúng quy định, khoản chi này sẽ được xem là chi phí hợp lệ và được trừ vào thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp. Các khách sạn, khu nghỉ dưỡng hiện đang nhờ các trang mạng như Booking.com, Agoda, Expedia… bán phòng giùm cũng phải nộp thuế nhà thầu thay cho các nơi này.

Nay theo tinh thần của dự thảo Luật Quản lý thuế, doanh nghiệp trong nước được miễn trách nhiệm khấu trừ này mà chuyển sang cho các ngân hàng thương mại nơi có tài khoản thanh toán của các dịch vụ liên quan!

Thật không hiểu nổi vì sao Bộ Tài chính lại muốn làm phức tạp hóa một vấn đề tưởng đâu đã rõ. Trước hết tài khoản ngân hàng của doanh nghiệp hay cá nhân là một nơi bất khả xâm phạm; không ai ngoài chủ tài khoản được quyền yêu cầu ngân hàng thương mại nhón tay lấy bất kỳ khoản tiền nào trong tài khoản được, trừ phi đó là lệnh của tòa án, thi hành một phán quyết nào đó. Trên cơ sở nào cơ quan thuế yêu cầu ngân hàng thương mại khấu trừ thuế từ tài khoản? Ngay cả tòa án trước tiên cũng thường ra lệnh phong tỏa tài khoản, tức đóng băng tài khoản chứ không phải đụng chạm, xử lý các khoản tiền cụ thể trong tài khoản.

Ngược lại, thuế nhà thầu mà doanh nghiệp hiện đang nộp thay cho các nơi cung cấp dịch vụ nước ngoài là theo đúng thông lệ quốc tế, tên gọi loại thuế này (withholding tax) cũng cho thấy bản chất “giữ tiền lại giùm cho nhà nước”. Nếu cần sửa đổi, bổ sung là sửa đổi bổ sung các quy định để doanh nghiệp dễ dàng hợp thức hóa khoản chi trả này chứ không phải chuyển trách nhiệm khấu trừ cho nơi khác.

Tương tự như thế Bộ Giao thông, trong dự thảo sửa đổi Luật Giao thông đường bộ cũng đề xuất chủ ô tô phải có tài khoản ngân hàng để dễ trích tiền xử phạt vi phạm giao thông, nhất là các khoản phạt nguội. Giả thử chủ ô tô có tài khoản ngân hàng và bị phạt vượt đèn đỏ, liệu ngân hàng thương mại nơi mở tài khoản có mạnh dạn chuyển khoản tiền phạt cho kho bạc nhà nước khi chưa có lệnh của chủ tài khoản?

Trong khi đó không thiếu gì cách để buộc chủ ô tô phải nộp phạt đầy đủ trước khi được sử dụng xe, như nhờ bên đăng kiểm làm một chốt chặn, xe chưa nộp phạt chưa được đăng kiểm hay mở rộng ra, xe chưa nộp phạt chưa được nộp phí sử dụng đường bộ. Để xử lý nghiêm những ai chây lười có thể áp dụng mức phạt cao cho những khoản phạt nộp trễ hạn, mục đích làm sao cho người chủ xe phải nhanh chóng đi nộp phạt hơn là nghĩ đến con đường trừ thẳng từ tài khoản ngân hàng.

Thu thuế hay thu tiền nộp phạt là mối quan hệ giữa cơ quan nhà nước và tổ chức hay cá nhân. Tài khoản ngân hàng là mối quan hệ giữa tổ chức hay cá nhân với ngân hàng thương mại. Hai mối quan hệ này tách biệt nhau, không thể nối chúng lại với nhau bằng mệnh lệnh hành chính.



Giảm biên chế giáo viên

Bài toán giảm biên chế giáo viên Hiện đang nảy sinh một nghịch lý, nhiều nơi đang thiếu giáo viên (theo Bộ Nội vụ, tổng cộng 29 tỉnh, ...