Thursday, June 30, 2016

Khởi nghiệp - nay đã khác

Khởi nghiệp - nay đã khác

Khởi nghiệp theo nghĩa “startup” hiện là chuyện thời thượng không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều nước trên thế giới.

Khởi nghiệp trước đây chỉ là khởi sự một doanh nghiệp, dù đó là mở một xưởng may gia công, mở cửa hàng thủ công mỹ nghệ hay đơn giản là mở tiệm ăn uống. Nhưng nay khởi nghiệp được hiểu theo kiểu “startup”, tức thường gắn với công nghệ thông tin, ở những ngành phát triển nhanh, quy mô bùng nổ sau một thời gian ngắn. Khởi nghiệp kiểu đó có những vấn đề khác hẳn khởi nghiệp kiểu cũ.

Trước hết chuyện bùng nổ “khởi nghiệp” là không tránh khỏi. Thế giới quanh chúng ta đang thay đổi nhanh chóng; trước đây có ai nghĩ hàng ngày chúng ta đều đem theo bên người chiếc máy vừa dùng để nói chuyện, vừa để đọc tin tức rồi sống trong một thế giới ảo, sôi động hơn thế giới thật nhiều lần. Có ai nghĩ dùng nó để gọi xe, đặt thức ăn, mua hàng từ xa, hẹn hò, đọc sách và cả coi phim nữa.

Những thay đổi này kéo theo các thay đổi mô hình kinh doanh, nhiều loại hình doanh nghiệp lụi tàn nhường chỗ cho các doanh nghiệp mới, chưa từng có trước đây. Không lạ gì phải có một thế hệ doanh nhân mới, trang bị kiến thức mới, suy nghĩ mới để phục vụ cho những thay đổi đó.

Quy mô bùng nổ nhanh chóng chính là vấn đề số một

Tâm thế của những người khởi nghiệp kiểu mới không nhắm vào lợi nhuận, không xây dựng doanh nghiệp mình lớn dần từng bước mà hướng đến sự đột phá về người dùng, càng thu hút được nhiều người, quy mô tăng trưởng càng nhanh chóng thì họ càng được đánh giá là thành công.

Vấn đề ở chỗ, lối tư duy này bị nhiều nhà phân tích cho là có hại hơn là có lợi cho nền kinh tế nói chung.

Vì sao như vậy.

Lấy ví dụ một doanh nghiệp khởi nghiệp rất thành công là Uber. Mới đây Uber gọi được 3,5 tỉ đô la Mỹ từ Ảrập Saudi, nâng tổng vốn gọi được từ các nhà đầu tư lên đến 11 tỉ đô la và nâng trị giá của Uber lên đến 62,5 tỉ đô la. Uber dùng vốn này làm gì? Vì không phải đầu tư mua xe hay thuê tài xế, chi phí cho phần mềm không đáng kể, Uber sẽ sử dụng lượng tiền này để “phát triển thị trường”, có nghĩa sẽ khơi mào cuộc chiến giảm giá cho đến khi không còn hãng taxi truyền thống nào cạnh tranh nổi mới thôi.

Vì không nhắm tới lợi nhuận mà chỉ nhắm mở rộng thị trường, càng có nhiều người sử dụng Uber càng tốt, bất kể lỗ, nên mô hình này tạo ra sự phá hủy nhưng không tái tạo và không đóng góp gì cho sự thịnh vượng chung của nhân loại.

Sự thành công của những doanh nghiệp liên quan đến công nghệ thông tin trước nay đều dựa vào hiệu ứng mạng lưới như Facebook, Google hay thậm chí Microsoft thời “một mình một chợ với” hệ điều hành Windows và phần mềm xử lý văn bản Office. Những doanh nghiệp startup mới, cũng dựa vào hiệu ứng mạng lưới, nhưng vì phải thay thế cho những mô hình cũ nên thành công của họ đồng nghĩa với sự hủy diệt của người khác. Ở đây sự hủy diệt không mang tính tích cực vì yếu tố cạnh tranh không sợ lỗ, lấy thịt đè người không đem lại lợi ích gì cho nền kinh tế.

Cái tâm lý thổi cho doanh nghiệp của mình lớn nhanh như Phù Đổng để gọi thêm vốn, để thu hút vốn, thậm chí để bán doanh nghiệp cho được giá là không ổn về mặt quản trị và không bền vững.

Vốn từ đâu?

Trong khi ở nước ngoài, các startup trông chờ vốn từ các quỹ mạo hiểm, ở Việt Nam khởi nghiệp khó lòng trông chờ tiền rót từ các quỹ tương tự. Thỉnh thoảng tin trên báo chí cũng nói nơi này nơi kia được rót cả một đống tiền nhưng thật sự số này chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ nhoi. Phần lớn người khởi nghiệp... xin tiền của gia đình bởi các con đường gọi vốn khác như vay ngân hàng xem ra không khả thi trong bối cảnh hiện nay.

Ý tưởng xây dựng một sàn chứng khoán riêng cho các công ty khởi nghiệp là ý tưởng hay nhưng cũng khó lòng khả thi. Đến 80% công ty khởi nghiệp thất bại thì sàn chứng khoán nào chịu nổi; hay nói cách khác không thị trường nào chịu được độ biến thiên bất thường của các công ty khởi nghiệp theo mức thăng trầm thường là dữ dội của chúng. Công chúng có thể bỏ vốn trực tiếp vào công ty khởi nghiệp nhưng họ không sẵn sàng mua bán trao đổi cổ phiếu của các công ty này bởi rủi ro quá lớn.

Cách tốt nhất là tạo một cơ chế để các tài năng khởi nghiệp có thể huy động vốn công khai, minh bạch, sòng phẳng từ công chúng qua mạng. Có một ý tưởng hay, một giải pháp tốt, một sản phẩm tiềm năng, một ứng dụng tuyệt vời, tác giả của chúng bèn lên một trang web trung gian, trình bày rõ kèm theo là phương án thực hiện, lộ trình, kỳ vọng, rủi ro... Ai chấp nhận được sẽ đóng góp vốn cho tác giả thực hiện. Đây cũng là cách gọi vốn khá phổ biến ở nhiều nước, chủ yếu tập trung vào sản phẩm và giải pháp.

Con người ở đâu cũng là yếu tố quyết định

Startup khởi đầu từ ý tưởng. Ý tưởng đó thường dựa trên cơ sở mô hình kinh doanh đang thay đổi nhanh chóng nhờ công nghệ. Vì thế, thế mạnh của các ý tưởng khởi nghiệp ở nước ngoài là sản phẩm, dịch vụ hay ứng dụng mới sẽ thay chỗ cho bao con người để tự động hóa các quy trình, từ đó tạo ra giá trị mới vượt trội so với giá trị truyền thống.

Có thể nêu ra hàng loạt ví dụ như thế như luật sư ảo đang thay chỗ cho luật sư thật, hiệu quả nâng lên bội phần, xe không người lái sắp trở thành hiện thực dẫn đến chỗ người ta không sở hữu xe nữa mà sẽ gọi xe đến chở đi khi cần, máy móc chẩn đoán bệnh sẽ thu nhỏ dần để người ta có thể đeo bên người, các lớp học ảo bắt đầu phổ biến nhờ điện thoại nối mạng...

Có thể thấy nhiều ngành nghề sẽ trải qua những biến động lớn, chẳng hạn, sẽ ít người học luật hơn, nhiều hãng xe truyền thống sẽ phá sản, phương thức giáo dục phải thay đổi vì vai trò người thầy thay đổi.

Thế nhưng ở Việt Nam, các ý tưởng khởi nghiệp thường trùng lắp, đi lại cũng liên quan đến chuyện mua sắm, ăn uống, du lịch, giải trí - chưa thấy gì đột phá. Và điều đáng ngạc nhiên là một số ý tưởng khởi nghiệp như thế lại thành công nhờ vào con người nhưng là con người có tiền công còn rẻ. Thử tưởng tượng một ứng dụng mua hàng giao tận nơi ở Mỹ làm sao cất cánh khi tiền giao một món hàng 5-10 đô la còn rẻ hơn nhiều tiền công thuê người đi giao. Ở Việt Nam, giao hàng như thế thành một yếu tố khởi nghiệp thành công!

Nhìn lại những vấn đề của khởi nghiệp và nhu cầu chuyển đổi của nền kinh tế, có thể nào tìm ra một con đường dung hòa. Muốn thế, xin đừng xem khởi nghiệp là một mốt thời thượng mà sử dụng nó người ta có thể trở thành triệu phú đô la trong một thời gian ngắn. Các bài viết cổ xúy khởi nghiệp cũng xin đừng nuôi dưỡng cái tham vọng không dựa trên thực tế như thế. Hãy nghĩ đến khởi nghiệp như một sự khởi đầu trên con đường nhận thức các thay đổi đang diễn ra quanh chúng ta và xác định lại các ưu tiên trong thiết kế mô hình kinh doanh.


Từ ngành truyền thông đến may mặc, từ giáo dục đến bán hàng - tất cả đang phải trải qua những thay đổi - thành công sẽ chỉ đến với những người biết thay đổi, bất kể đó là chuyện khởi nghiệp hay tái khởi công một cơ sở làm ăn truyền thống theo con đường mới.

Tuesday, April 26, 2016

The Sympathizer

Câu trả lời là… không có gì cả! 

Nguyễn Vạn Phú 

Độc giả Mỹ phải nói sướng thiệt, họ có thể đọc The Sympathizer của Nguyễn Thanh Việt một cách thoải mái như đọc một tác phẩm văn học vừa đoạt giải Pulitzer, không mảy may vướng bận chuyện chính trị, chính em. Chẳng ai hơi đâu thắc mắc vì sao tác giả hư cấu cho một viên chức CIA sau năm 1975 rồi mà còn tìm kênh không chính thức để tài trợ cho một nhóm lính Việt Nam Cộng Hoà về Thái Lan lập căn cứ phục quốc! 

Dân Việt không được cái sướng này. Ai đọc cuốn tiểu thuyết dành giải Pulitzer (dù đó là hạng mục hư cấu) này cũng sẽ săm soi coi ông nhà văn này miêu tả cuộc chiến như thế nào, lập trường hậu chiến ra sao? Và nếu xét theo góc độ đó, thiết nghĩ nếu cuốn sách được dịch sang tiếng Việt, người đọc rộng rãi hơn bây giờ, có lẽ tác giả sẽ bị ném đá từ cả hai phía và e rằng phía "Cộng Hoà" sẽ dữ dội hơn phe “Việt Cộng” dù kỹ thuật của tác giả lường trước chuyện này để hoá giải đạt mức khá thượng thừa. 

Đó là một bi kịch mà người điểm sách muốn vượt qua. Tại sao không cố quên đi chuyện chúng ta, một cách nào đó,  cũng là nhân vật trong cuốn tiểu thuyết hư cấu này, thân phận chúng ta được phơi bày trần trụi để đọc nó như đa phần độc giả trên khắp thế giới? 

Nhưng đọc với tâm thế như vậy, e rằng sẽ có người thất vọng. The Sympathizer không tạo dựng được một không khí văn học thuần tuý như những tác phẩm mà Nguyễn Thanh Việt chịu ảnh hưởng như “The Quiet American” của Graham Greene. Nó không có sự lạnh lùng của "The Spy Who Came in from the Cold" của John le Carré 

Trước hết đó là bởi tác giả chọn lối viết là một tập hợp 295 trang “tự kiểm” mà nhân vật tôi viết và nộp cho Cán Bộ (các từ loại này được viết hoa vì nó được xem là tên nhân vật)Góc nhìn này làm bó tay người viết khi muốn tạo dựng hình ảnh ba chiều cho các nhân vật chính – phần lớn họ xuất hiện như những hình nhân hai chiều, buồn tẻ, đơn điệuHọ xuất hiện chỉ để làm nền cho một dòng văn chính luận được viết theo dạng mỉa mai, hai mặtNhân vật chính xưng tôi là Đại Úy trong quân đội Sài Gòn nhưng là điệp viên do Việt Cộng cài vào. 295 trang tự kiểm này kể lại cuộc đời của anh ta mà các bạn có thể đọc được ở các bài điểm sách tóm tắt cốt truyện.  

Nhưng chính góc nhìn này đã làm cho tác phẩm thành công với độc giả Mỹ, hay ít nhất là với thế hệ baby boomers lớn lên cùng chiến tranh Việt Nam. Bởi nó cung cấp một góc nhìn châm biếm, cay độc và hài hước về xã hội Mỹ, chính trị Mỹ, điện ảnh Mỹ cùng các vấn đề của nó như sự kỳ thị ở tầng sâu nhất. Trường đoạn kể chuyện nhân vật tôi tham gia làm phim The Hamlet (lấy nguyên mẫu là bộ phim nổi tiếng Apocalypse Now) đủ để nhiều người Mỹ khoái trá khi đọc miêu tả đạo diễn lừng danh Francis Coppola hay diễn viên huyền thoại Marlon Brando dưới một con mắt khác.  

Còn ở góc cạnh "kể chuyện" thì cách viết "kiểm thảo" đó lôi cuốn chẳng khác gì một phim Hollywood như "đại cảnh" tháo chạy bằng C130 tại sân bay Tân Sơn Nhất dưới làn đạn pháo rồi "cận cảnh" cái chết của đứa con và vợ của Bốn, người bạn thân của Đại Úy bằng một viên đạn không biết từ phe nào khi còn vài bước chạy là lên được máy bay. Có lẽ với nhiều người Mỹ đây là lần đầu tiên họ được đọc miêu tả chiến tranh Việt Nam nhìn từ góc lính Cộng Hòa, bị phản bội, bị bỏ rơi nhưng chỉ biết phẫn uất với đồng đội 

Bao trùm lên đó là tính hai mặt mà tác giả muốn khoác lên mọi thứ, từ bản thân nhân vật tôi (Đại Úy) từng thú nhận ngay đầu tiểu thuyết: “am a spy, a sleeper, a spook, a man of two faces (tất cả danh từ này đều miêu tả một kẻ hai mang)kể về xuất thân (con hoang của một linh mục Pháp và một phụ nữ Việt), kể về hai vai phải đóng (vừa là đại úy quân đội Sài Gòn vừa là điệp viên do Cộng Sản cài vào) đến hai người bạn cắt máu ăn thề như ba chàng ngự lâm pháo thủ (Mẫn, cấp trên trực tiếp của Đại Úy và Bốn, lính Sài Gòn chuyên giết người trong Chiến dịch Phượng Hoàng tuy hai nhưng thật ra là một). Cả nước Mỹ dưới mắt tác giả cũng hai mặt như thế, vừa văn minh vừa thực dânvừa hiện đại, siêu mọi thứ lại tàn nhẫn, khốc liệt 

Với độc giả người Việt, nếu bỏ qua được cái xét nét nói ở trên, vẫn sẽ có nhiều người thấy thú vị với những nhận định của tác giả về mặt sau của cuộc chiến, về cuộc sống của người dân tỵ nạn, của cộng đồng nàyNgay cả Ông Tướng khi nghe tay CIA trấn an, "Chính thức mà nói không có chuyện di tản đâu" cũng phải thốt lên"Còn không chính thức mà nói các ông đang bỏ rơi chúng tôi".  

Nhưng có lẽ sẽ có nhiều người khác khó vượt qua các chi tiết như Ông Tướng thu xếp để Đại Úy ám sát một nhà báo dám kêu gọi hòa hợp hòa giải vì chiến tranh đã qua rồi hay ra lệnh ngầm để Bốn giết Thiếu Tá mập vì nghi là Việt Cộng cài lại. Trường đoạn Đại Úy nhớ lại cảnh ba tay cảnh sát cộng hòa hãm hiếp một cách dã man người nữ điệp báo Việt cộng trong khi tay cố vấn CIA đứng nhìn chẳng kém gì những đoạn văn bạo dâm của de Sade.  

Đến khi Đại Úy cùng Bốn trở về Thái Lan tìm cách vượt biên vào Việt Nam để tiền trạm cho Ông Tướng đem quân về phục quốc, cả hai bị bắt và tống vào trại cải tạo, người đọc trong nước có lẽ sẽ thấy chuyện “kiểm thảo” là bình thường, chuyện Cán Bộ đòi Đại Úy phải tự kiểm mạnh hơn nữa để thấy mình bị "phương Tây đầu độc" như thế nào là bình thườngThậm chí sẽ có những nụ cười khi Cán Bộ so sánh sao không trích "Thép đã tôi thế đấy" mà trích toàn Phạm Duy với Beatles! Nhưng sẽ có những luồng dư luận phản ứng với góc nhìn "phản tỉnh" của Đại Úy, dưới sự thúc dục của chính Mẫn, sau nhiều màn tra tấn chủ yếu bằng tâm lý đã ngộ ra Không có gì quý hơn độc lập, tự do” chính là “Không có gì”  không có gì cả.  

Quay trở lại với yếu tố văn học, tác giả như sợ người đọc không hiểu được tính hai mặt của câu khẩu hiệu nổi tiếng này như Đại Úy vào cuối truyện chợt hiểu ra ý nghĩa của cuộc đời mình ra nên phải dành cả đoạn nói cặn kẽ cái ý đó (Mẫn Chính Ủy cứ gặn hỏi Cái gì quý hơn độc lập, tự do? Để hướng đến câu trả lời Không có gì cả)Đây là chỗ yếu nhất của sách, làm hỏng cả phần sau mang hơi hướm thực ảo trộn vào nhau, khác với lối kể chuyện ở phần trước.  

Bỏ qua các chi tiết này, bỏ qua nhiều chỗ cường điệu (như tranh luận với ông đạo diễn về chuyện phim về Việt Nam sao không cho nhân vật Việt Nam nào nói gì cả, như cho Cán Bộ trích nhiều câu thơ của Tố Hữuthì cuốn sách hấp dẫn người chịu đọc nhờ giọng văn tưng tửng của tác giảTưng tửng ngay cả khi miêu tả cặn kẽ cách nhân vật chính giết tay nhà báo bằng những phát súng vụng về, bằng sự ân hận ám ảnh trước cái chết của Thiếu Tá do lỗi Đại Úy sợ lộ thân phận nên gán cho anh ta tội làm gián điệp hay cả khi kể chuyện "tự sướng" bằng con mực ống! Giọng văn tưng tửng này chuyển thành dòng chảy ý thức (stream of consciousness) rất thành công ở các chương gần cuối khi tác giả thoát cảnh viết kiểm thảo. 

The Sympathizer là một cách tóm tắt thông minh số phận người dân Việt phải trải qua trong hơn 40 năm quaNó sẽ thành công hơn nếu tác giả biết tiết chế, không đưa vào những đoạn "tuyên ngôn" lộ liễuĐọc nó với tâm thế đọc một bài luận dài thì dễ vào hơn là đọc nó như một tác phẩm văn học vì các nhân vật xuất hiện, nói năng, hành động chỉ như để minh họa cho điều tác giả muốn nói hay đúng hơn là thể hiện những điều tác giả sử dụng chất liệu của nguồn khác (như trong lời bạt) để nói điều muốn nói 


   

Friday, March 25, 2016

Luật báo chí, nhà báo và người dân


Nói thêm: Có một bài mới (“Tư nhân và báo chí”) nhưng để TTCT bán báo giấy vài hôm, tuần sau sẽ đưa lên đây. Tạm thời mời đọc một bài cũ, cũng về Luật Báo chí:

Đôi lúc chúng ta tò mò về Luật báo chí khi gặp chuyện phiền phức với một tờ báo nào đó. Một bác sĩ bị trích lời sai lệch, một ca sĩ bị báo bịa chuyện phỏng vấn trong khi chưa hề gặp phóng viên nào, một nhà nghiên cứu bị gán cho những phát biểu gây sốc trên báo… Có lẽ lúc đó mà có Luật báo chí ngay trước mắt để đọc xem luật quy định như thế nào thì hay quá. Ngoài ra, dường như chẳng ai quan tâm đến đạo luật này, trừ giới nhà báo! Nhưng có đúng vậy chăng?

Luật Báo chí và người dân

Có lẽ ít người biết Luật báo chí trao cho người dân những quyền rất lớn để bảo vệ họ trước sự lạm quyền, nếu có, của báo chí. Luật hiện hành (sửa đổi năm 1999) cho phép bất kỳ ai có căn cứ cho rằng báo đăng sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm đến mình thì hồi đáp và báo phải có nghĩa vụ đăng tải hồi đáp đó. Luật sửa đổi (Quốc hội sắp bàn để thông qua) còn tiến thêm một bước nữa khi khẳng định dù báo không đồng tình với phản hồi đó thì cũng vẫn phải đăng rồi mới được tiếp tục thông tin làm rõ quan điểm của báo.

Thực tế nhiều người bị báo nói sai cũng im lặng cho qua vì không muốn dây dưa với báo chí. Trừ một số ít trường hợp đem nhau ra tòa, nhiều người dùng biện pháp nhờ cơ quan quản lý báo chí can thiệp, nhất là giới có quan hệ tốt như chính quyền địa phương, doanh nghiệp nhà nước hay có đầy đủ phương tiện để vận động can thiệp.

Chính điều này đã làm méo mó quan hệ giữa người dân và báo chí, phá hỏng một quá trình xây dựng trách nhiệm giải trình của báo chí trước công luận để khỏi rơi vào bế tắc “ai giám sát người đi giám sát”.

Vì vậy, điều nhiều người mong muốn ở Luật báo chí sửa đổi lần này là một sự chế tài, kể cả quy định chi tiết cách kiện ra tòa, để báo chí phải tuân thủ tính chuyên nghiệp, tính nghiêm túc trong đưa tin có ảnh hưởng đến người khác.

Sự chế tài đó hiện thiếu vắng ở dự thảo đang lưu hành vì, ví dụ trong trường hợp nói trên, luật quy định sau ba lần đăng phản hồi qua lại giữa tổ chức, cá nhân và cơ quan báo chí mà không đạt được sự nhất trí thì… thôi, báo có quyền im lặng! Hoặc nghĩa vụ đăng tải phản hồi lại bị vô hiệu hóa bởi một điều luật khác: “Cơ quan báo chí có quyền không đăng, phát ý kiến phản hồi của tổ chức, cá nhân nếu ý kiến đó vi phạm pháp luật, xúc phạm đến uy tín, danh dự của cơ quan báo chí, của tác giả”.

Nói đi thì cũng phải nói lại, cũng may là người dân ít để ý đến Luật báo chí và văn bản dưới luật có liên quan. Hình như ít ai biết có một quy chế, đặt ra quy định “nếu người được phỏng vấn yêu cầu xem lại nội dung trước khi đăng, phát, cơ quan báo chí và người phỏng vấn không được từ chối yêu cầu đó”. Nếu ai cũng biết và đòi hỏi thực hiện yêu cầu này thì xem như báo chí bó tay, không còn những bài phỏng vấn góc cạnh, bất ngờ và độc đáo nữa. Và cũng may, yêu cầu này không có trong dự thảo Luật báo chí sửa đổi.

Như thế, mong muốn của người làm luật để Luật báo chí thể hiện quyền tự do báo chí của công dân, một điểm mới so với luật hiện hành, đã được hiểu một cách rất giản lược. Chẳng hạn đó chỉ là quy định công dân được quyền cung cấp thông tin cho báo chí, được phát biểu trên báo chí, góp ý, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí…

Vì quy định này mà sau đó có những điều luật chắc chắn không khả thi trong thực tế như bắt báo chí phải tiếp nhận và đăng các tin, bài, ảnh của công dân gửi tới, nếu không đăng thì phải có trách nhiệm trả lời. Thực tế không hề đơn giản như thế và tự do báo chí của công dân không chỉ là chuyện viết và đòi báo phải đăng.

Trong khi đó, một biểu hiện của quyền tự do báo chí của công dân là sự tự do biểu đạt suy nghĩ của họ dưới bất kỳ hình thức và phương tiện nào lại không được luật đề cập.

Với sự phức tạp và nhạy cảm của đề tài báo chí như một lãnh đạo trong ngành phát biểu, ít nhất cũng nên nhìn mối quan hệ giữa báo chí và công dân như nói ở phần đầu - tạo ra một hành lang pháp lý mạnh, có chế tài đầy đủ để công dân có mối quan hệ bình đẳng, hai bên cùng tôn trọng nhau, hợp tác với nhau vì sự lành mạnh của xã hội.

Luật Báo chí và nhà báo

Giả định chẳng ai quan tâm đến Luật báo chí, trừ giới nhà báo, hóa ra lại trật lất. Một cuộc thăm dò bỏ túi cho thấy trong mười nhà báo được hỏi, chỉ có hai người đã đọc dự thảo Luật báo chí sửa đổi. Dù số người đã đọc Luật báo chí hiện hành có cao hơn - đến sáu người - nhưng chỉ một người cho biết có tham khảo lại luật khi hành nghề bởi đa số nói luật không liên quan gì đến công việc làm báo của họ cả.

Nhà báo mà lại ít quan tâm đến Luật báo chí có lẽ vì ngoài phần quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận của công dân như đã nói thì đây là “luật quản lý báo chí” đúng hơn là “Luật báo chí”. Đúng là các phần liên quan đến quản lý nhà nước như cấp giấy phép, cấp thẻ nhà báo, cách tổ chức cơ quan báo chí… chiếm phần lớn nội dung của dự thảo.

Mà lạ một điều, dự thảo Luật báo chí sửa đổi có những điều khoản sẽ tác động rất lớn đến cách tổ chức cơ quan báo chí như người đứng đầu nay sẽ là tổng giám đốc, giám đốc chứ không phải là tổng biên tập nữa và mỗi cơ quan báo chí sẽ có nhiều tổng biên tập chịu trách nhiệm cho các ấn phẩm khác nhau. Các quy định này cần được thảo luận rộng rãi và sâu sắc để có cách tiếp cận phù hợp và công bằng.

Đó là bởi những điều thực chất hơn, thiết thân hơn trong hoạt động nghề nghiệp không được luật nhắc đến hay nhắc đến một cách sơ sài. Chẳng hạn, hiện nay giới báo chí rất phiền bực chuyện hàng ngàn trang “thông tin điện tử tổng hợp” cứ sao chép nguyên xi các bài viết trên báo đem về làm như của họ. Cứ nghĩ mà xem, một trang tổng hợp như thế, chép từ hàng chục tờ báo chắc chắn sẽ hấp dẫn hơn bản thân từng tờ báo riêng lẻ.

Vậy là báo chí chỉ biết ngồi nhìn người khác cướp tài sản trên tay về để kinh doanh mà không làm sao ngăn được. Thế nhưng Luật báo chí sửa đổi có giải quyết được việc này không? Không hề. Thậm chí còn khuyến khích các trang thông tin điện tử tổng hợp “trích dẫn nguyên văn, chính xác nguồn tin báo chí”!

Ở đây xin bàn thêm một điểm. Luật báo chí nguyên thủy năm 1989 nói nhiệm vụ của báo chí là “thông tin trung thực về mọi mặt của tình hình đất nước và thế giới”. Đến khi sửa luật vào năm 1999, điều này được sửa thành “thông tin trung thực về tình hình trong nước và thế giới phù hợp với lợi ích của đất nước và của nhân dân” và đến dự thảo lần này cũng gần như giữ nguyên so với năm 1999 (“thông tin trung thực về tình hình đất nước và thế giới phù hợp với lợi ích của đất nước và của nhân dân”).

Với nội dung này, một ông chủ tịch tỉnh hoàn toàn có thể ra lệnh cho báo tỉnh và các văn phòng đại diện báo khác ở tỉnh này không được đăng chuyện ông ra công văn yêu cầu công chức trong tỉnh phải uống bia sản xuất tại tỉnh này. Bởi đăng như thế là có hại đến lợi ích của tỉnh cũng như dân trong tỉnh!

Đã từng có những yêu cầu không đưa chuyện nông dân bị ép giá mua lúa vì sợ nhà nhập khẩu nước ngoài biết, ép thêm; hay chuyện không đưa tin có nơi có lúc bỏ tạp chất vào nông sản xuất khẩu - tất cả đều dưới lý do không phù hợp với lợi ích của đất nước và của nhân dân. Trong cái nhìn dài hạn, đấu tranh để dứt khoát loại bỏ các tật xấu này đòi hỏi báo chí phải lên tiếng một cách đều đặn, bền bỉ và kịp thời để cái xấu không lan ra.


Trong cuộc sống có hàng ngàn ví dụ như thế mà nhà báo phải đương đầu, cân nhắc hằng ngày. Luật cần giúp cho quá trình này diễn ra bình thường và lành mạnh, khoa học, để luật thật sự đi vào cuộc sống.