Friday, October 5, 2012

Nếu không có khu vực FDI…


Nếu không có khu vực FDI…
Nhìn vào kết quả xuất khẩu 9 tháng đầu năm 2012 có thể rút ra ngay một kết luận về vai trò của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Trong tổng kim ngạch xuất khẩu 83,8 tỷ đô-la Mỹ, khu vực FDI chiếm đến 52,5 tỷ đô-la, tức 62,6% bất kể số lượng doanh nghiệp trong nước lớn hơn doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài rất nhiều lần.
Quan trọng hơn, 9 tháng đầu năm, xuất khẩu tăng 18,9% chính là nhờ mức tăng rất cao của khu vực FDI, đến 34,6% chứ còn khu vực kinh tế trong nước, tức kể cả doanh nghiệp nhà nước lẫn doanh nghiệp tư nhân, xuất khẩu 9 tháng đầu năm sụt 0,6%!
Rõ ràng là nếu không có khu vực FDI, xuất khẩu Việt Nam sẽ sụt giảm so với mức tăng cao đều đặn trong nhiều năm trước. Sẽ có người nhận xét, xuất khẩu của khu vực FDI tăng cao là nhờ tính cả dầu thô. Không phải, xuất khẩu dầu thô 9 tháng đầu năm chỉ tăng 14,7% và nếu không tính dầu thô, xuất khẩu của khu vực FDI tăng đến 37,9%.
Thế nhưng trong cân nhắc chính sách, nhiều người lại bỏ quên khu vực FDI. Việc kêu gọi thu hút đầu tư nước ngoài không còn được chú trọng như những năm trước; các khó khăn của giới doanh nghiệp nước ngoài không được quan tâm tháo gỡ kịp thời như xưa…
Kết quả có thể thấy ngay, mức đăng ký vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm đến 39% (còn 6,1 tỷ đô-la), vốn FDI thực sự triển khai trong 9 tháng đầu năm cũng giảm 1,2% so với cùng kỳ năm ngoái (còn 8,1 tỷ đô-la).
Những khó khăn của doanh nghiệp trong nước dẫn đến những vận động hành lang của các nhóm lợi ích khác nhau rồi dẫn đến những thay đổi chính sách thường xuyên, gây lúng túng bối rối cho các doanh nghiệp FDI đang hoạt động. Các doanh nhân nước ngoài từng làm ăn lâu năm tại Việt Nam phải nhận xét: chưa bao giờ họ thấy tương lai sản xuất và kinh doanh mờ mịt như hiện nay bởi không thấy sự nhất quán trong chính sách hay một lộ trình rõ ràng nhằm tháo gỡ khó khăn cho nền kinh tế.
Trong bối cảnh đó, thay vì lắng nghe những phản hồi về môi trường kinh doanh ở nước ta, nhiều người lại cứ phân trần rằng nhận định của giới phân tích nước ngoài là phiến diện, không khách quan. Họ không nhận ra rằng nhà đầu tư nước ngoài dựa vào những nhận xét như thế trước khi quyết định đầu tư vào Việt Nam hay thôi chứ đâu quan tâm đến việc nhận xét này đúng sai đến mức độ nào.
Lấy ví dụ nhận định của hãng xếp hạng tín dụng Moody’s vào tuần trước khi đánh tụt hạng trái phiếu chính phủ Việt Nam là rất đáng quan tâm. Moody’s cho rằng trong khoản thời gian 5 năm từ năm 2007 đến 2011, tín dụng tăng trưởng bình quân hằng năm đến 33,7%, vượt xa mức tăng bình quân GDP là 6,6% hay kể cả mức tăng GDP danh nghĩa là 21,3%. Sau đó tín dụng bị thắt chặt, làm cho nợ xấu ngày càng tăng. Nay việc tái cấp vốn cho hệ thống ngân hàng là không thể tránh khỏi và gánh nặng đó sẽ rơi vào ngân sách chính phủ, càng trói chân khả năng vận dụng chính sách tài khóa. Trong khi đó, ngân hàng vì lo cho bảng cân đối kế toán không thể để ngày càng xấu đi nên đang hạn chế cho vay, làm nghẽn dòng tăng trưởng kinh tế.
Thiết nghĩ, bên cạnh các số liệu thô sơ về đầu tư nước ngoài, Tổng cục Thống kê và Bộ Kế hoạch & Đầu tư cần có những phân tích sâu hơn như số liệu doanh nghiệp FDI phá sản, đóng cửa trong quý, số việc làm do khu vực này tạo ra, số thuế các doanh nghiệp FDI nộp cho ngân sách, mức độ lan tỏa của một dự án FDI đến các doanh nghiệp trong nước làm vệ tinh cho dự án… Những số liệu này sẽ làm cơ sở cho giới hoạch định chính sách kịp thời đưa ra những quyết sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài có chất lượng thật sự. Một dự án sản xuất điện thoại của Samsung có thể làm thay đổi bức tranh xuất khẩu ở góc độ sản xuất công nghiệp – hàng loạt dự án như thế có thể là chỗ dựa để nền kinh tế thoát khỏi trì trệ, đình đốn như hiện nay.
PS: Ngoài ra, khu vực FDI xuất siêu trên 8,6 tỉ đô la Mỹ (hay 2,28 tỷ đô-la nếu không tính xuất khẩu dầu thô) trong khi khối doanh nghiệp trong nước, trái lại, nhập siêu đến 8,5 tỉ đô la.

Thursday, September 20, 2012

Co giãn như vàng


Co giãn như vàng
Cách đây một năm, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) tuyên bố: nếu giá vàng trong nước cao hơn giá vàng quốc tế 400.000 đồng/lượng trở lên là có dấu hiệu của hiện tượng đầu cơ, làm giá. Nói cách khác, định hướng của NHNN là làm sao để giá vàng trong nước và giá vàng quốc tế không chênh lệch nhau quá 400.000/lượng.
Một năm sau, độ chênh lệch này bị kéo giãn ra, có lúc lên đến gần 3 triệu đồng/lượng!
Điều đáng nói là chênh như thế chỉ xảy ra với vàng thương hiệu SJC chứ vàng các thương hiệu khác hiện đang có giá gần bằng giá vàng thế giới quy đổi. Nhãn hiệu SJC hiện do NHNN độc quyền quản lý nên khó lòng nói NHNN đang đầu cơ làm giá được! Có chăng là sự thất bại trong quản lý giá vàng cũng như những quyết định liên quan đến thương hiệu vàng miếng SJC.
Câu hỏi đặt ra là chính sách đối với vàng nên như thế nào, có nên đặt vấn đề bình ổn giá vàng như NHNN từng chủ trương không?
Rõ ràng ở các nước khác, vàng không hề là yếu tố đáng quan tâm trong chính sách tiền tệ của nước họ. Tuy nhiên ở nước ta, phải thừa nhận vàng là một “kẻ khó ưa” vì có những tác động khó lường lên thị trường tiền tệ, ví dụ mỗi khi lãi suất xuống thấp trong tương quan với lạm phát, người dân có thể chuyển từ tiền đồng sang vàng hay mỗi khi tỷ giá biến động giá vàng biến động theo vì nó là công cụ tháo gỡ rào cản kiểm soát dòng vốn. Nói cách khác, vì dân ta dễ dàng tiếp cận với vàng miếng nên vàng trở thành vật khuếch đại những biến động trên thị trường tiền tệ làm cho việc điều hành khó khăn, chật vật và tốn kém hơn nhiều.
Dễ thấy trong bối cảnh đó, NHNN sẽ muốn có những chính sách hạn chế sự lưu thông của vàng miếng, muốn người dân ít xài vàng như phương tiện cất trữ hay thanh toán, ít ra là cũng như các nước khác. Nhưng cho đến nay có thể nói NHNN đã chọn sai biện pháp để thực hiện ước muốn này: đó là chọn SJC như một thương hiệu mà Nhà nước độc quyền bởi quyết định này dễ tạo ra những khe hở tạo điều kiện cho đầu cơ hay làm giá. NHNN cũng chọn sai mục tiêu: đó là cố gắng kiểm soát giá hay bình ổn giá trong khi lẽ ra phải là hạn chế việc sử dụng vàng miếng trong thanh toán hay lưu giữ tài sản. Lúc NHNN đi đúng hướng như không để các ngân hàng vay hay cho vay bằng vàng thì lại thiếu cương quyết, cứ du di về thời hạn hay điều chỉnh chính sách nhiều lần (xem thêm bài “Không dễ quản lý thị trường vàng” – TBKTSG số ra ngày 6-9-2012).
Tỷ giá giữa tiền đồng và đô-la Mỹ vẫn ổn định trong thời gian qua chứng tỏ sự quan ngại chênh lệch giá vàng trong nước và giá vàng thế giới sẽ gây áp lực lên tỷ giá là không có. Nếu loại dần các ảnh hưởng cứ tưởng giá vàng sẽ gây ra trên thị trường tiền tệ trong khi thực tế là không có, NHNN sẽ dần tiến đến chỗ có quan niệm đúng đắn về vàng: bỏ nó qua một bên trong cân nhắc về chính sách. Còn người dân dùng vàng như một tấm lưới bảo hộ cho họ lúc gian khó là điều hay chứ không phải là điều đáng lo.

Tuesday, August 7, 2012

Nói vậy mà không phải vậy!


Nói vậy mà không phải vậy!
+ Trong những tháng đầu năm nay, người ta thường nghe các nhà phân tích nhấn mạnh sức mua yếu kém của thị trường như một dẫn chứng cho tình hình khó khăn của nền kinh tế. Tuy nhiên, nhận định về sức mua như thế thường không được hỗ trợ bằng số liệu nào cả.
Nay trong thống kê tình hình kinh tế sáu tháng đầu năm, Tổng cục Thống kê chính thức đưa ra những con số liên quan: Tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tính tăng 19,5% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá thì tăng 6,5%. Cụ thể hơn, kinh doanh thương nghiệp tăng 18,9%; khách sạn nhà hàng tăng 20,2%; dịch vụ tăng 22,3%; du lịch tăng 26,6%.
Như thế sức mua của thị trường nhìn chung đâu có giảm sút, thậm chí còn tăng khá mạnh so với cùng kỳ năm trước.
Ở một ví dụ khác, chúng ta cũng thường đọc trên báo chí hay nghe các doanh nghiệp phát biểu về những khó khăn gay gắt của họ, nhiều trường hợp đóng cửa, nhiều trường hợp khác phải thu gọn quy mô sản xuất. Chắc chắn với đại đa số không hề có chuyện đầu tư mở rộng.
Thế nhưng lý giải làm sao đây khi Tổng cục Thống kê cho biết sáu tháng đầu năm, đầu tư từ khu vực tư nhân vẫn tăng 18,1% so với cùng kỳ năm trước! Nếu biết rằng tín dụng sáu tháng đầu năm chỉ tăng 0,76%, một mức tăng không đáng kể thì làm sao lý giải khu vực tư nhân lấy vốn từ đâu để tăng 18,1%? Lưu ý là cả hai con số, mức tăng hàng hóa bán lẻ và đầu tư tư nhân trong sáu tháng đầu năm 2012 đều cao hơn mức tăng của các lãnh vực này trong năm 2011.
Ở đây có hai khả năng xảy ra: một là con số của Tổng cục Thống kê đưa ra không chính xác; hai là các nhận định trước đó trên các phương tiện thông tin đại chúng chỉ đúng với một số trường hợp và sai với toàn bộ nền kinh tế. Không có cách gì để khẳng định khả năng nào đúng. Trước mắt, có lẽ tất cả chúng ta đều phải dè dặt trước mọi con số hay mọi phản ánh mang tính khái quát hóa vội vàng.
*                      *                      *
+ Trong khi tính chính xác của các con số chưa được minh định rõ ràng, sức mua đã cạn kiệt của người dân được đem ra để giải thích cho hiện tượng chỉ số giá tiêu dùng giảm liên tiếp trong hai tháng qua.
Kể cũng lạ, trước đây có những chuyên gia kinh tế phân tích chi li cái hại của lạm phát lên nền kinh tế, nhất là lên mức sống của người dân nghèo bởi họ là người chịu nhiều thiệt thòi nhất khi giá cả tăng cao. Nay cũng những chuyên gia này lại cảnh báo tình trạng giảm phát sẽ “bất lợi cho những người sống chỉ dựa vào nguồn thu nhập cố định”!
Với lạm phát, tâm lý thị trường còn quan trọng hơn cả con số. Tâm lý kỳ vọng chỉ số giá cả tăng cao vẫn còn rất mạnh, người tiêu dùng vẫn còn bị ám ảnh bởi khả năng giá sẽ lên nữa. Vì thế, có lẽ cần bình tĩnh để thấy nói đến nỗi lo giảm phát hiện nay là quá sớm. CPI giảm chủ yếu do giá lương thực và năng lượng giảm; nếu hai yếu tố này quay đầu tăng trở lại, lạm phát vẫn sẽ là nỗi lo lớn chứ không phải là giảm phát.
*                      *                      *
+ Có những quy định không ai biết vì sao được sinh ra nhưng vẫn tồn tại dai dẳng, bất kể những hệ lụy to lớn chúng gây ra. Cộng đồng doanh nghiệp từng kiến nghị dai dẳng về chuyện không được chi quá 10% tổng chi phí cho quảng cáo, khuyến mãi bởi họ cho rằng áp đặt một mức trần như thế không có ý nghĩa gì cả ngoài việc trói chân trói tay doanh nghiệp. Ngày xưa lúc Việt Nam mới mở cửa, quy định như thế là nhằm ràng buộc các tập đoàn đa quốc gia thường mạnh tay chi tiền quảng bá lúc mới thâm nhập thị trường, giúp các doanh nghiệp non trẻ trong nước cạnh tranh ngang sức hơn. Thật ra, mức trần này không hề là rào cản với các tập đoàn này bởi họ phân bổ chi phí quảng cáo cho một chi nhánh nào đó ở nước ngoài trong khi một doanh nghiệp trong nước mới ra đời, muốn chi mạnh để tìm chỗ đứng trong tâm trí người tiêu dùng cũng đành chịu.
Đọc quảng cáo của một hãng chuyên bán điện thoại di động, rằng nếu mua chiếc điện thoại X với giá 8,6 triệu, khách hàng sẽ được tặng quà khuyến mãi trị giá lên đến 6,8 triệu, người tinh ý sẽ biết hãng này làm sai quy định. Bởi theo luật, giá trị hàng hóa dùng để khuyến mãi không vượt quá 50% giá của hàng hóa đem bán trong khi tỷ lệ ở đây là 79%!
Hay chuyện báo in không được quảng cáo quá 10% diện tích cũng là một quy định phi lý đã tồn tại từ rất lâu. Lúc đó, các báo đều do Nhà nước bao cấp, giá bán rất thấp, số trang cố định. Người ta suy nghĩ nếu báo cứ đăng quảng cáo hết thì lấy diện tích đâu để đăng tin, bài, ảnh hưởng đến chức năng tuyên truyền của báo chí, làm lãng phí ngân sách nhà nước. Quy định như thế xem ra hợp lý. Nhưng nay đa phần các báo tự chủ tài chính, lời ăn lỗ chịu, nếu cứ quảng cáo nhiều, không có nội dung thì bạn đọc không mua, không biết vì sao vẫn quy định, can thiệp vào tỷ lệ quảng cáo một cách máy móc. Từ đó mới hình thành cách trình bày báo rất đặc trưng cho Việt Nam là mọi quảng cáo dồn vào một tập – việc đầu tiên nhiều người đọc báo làm là tách nó ra và quẳng vào sọt rác – một sự lãng phí ghê gớm.
Điều đáng nói là những quy định bất hợp lý nói trên ít khi được thực thi đến nơi đến chốn nên chuyện vi phạm vẫn diễn ra thường xuyên, chỉ khi cần mới có chuyện phạt vạ.

Saturday, August 4, 2012

Hai nghịch lý từ một cuộc họp


Hai nghịch lý từ một cuộc họp
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình đã dự báo đường đi của lãi suất trong vòng hai năm tới tại hội nghị kết nối ngân hàng với doanh nghiệp được tổ chức cuối tuần qua tại TPHCM. Ông cho biết nếu lạm phát năm 2012 dừng ở mức 7% thì trần lãi suất huy động ngắn hạn sẽ giảm về 8% từ mốc 9% hiện nay, lãi suất cho vay nhờ đó sẽ giảm thêm. Lãi suất cho vay có thể xuống mức dưới 10% trong vòng tối đa hai năm nữa nếu lạm phát được khống chế, thậm chí mục tiêu đưa lãi suất xuống dưới 10% có thể đạt được vào giữa năm sau nếu lạm phát năm 2013 được chận đứng ở mức 4-6%.
Qua phát biểu này, có thể thấy đối với Ngân hàng Nhà nước (NHNN), lãi suất là mục tiêu nhắm đến và điều kiện để giảm lãi suất là lạm phát được duy trì ở mức thấp.
Trong khi đó, các văn bản chính thức từ Chính phủ đều cho thấy Việt Nam đang theo đuổi chính sách “lạm phát mục tiêu”, ví dụ tại phiên họp thường kỳ Chính phủ tháng 6, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh yêu cầu điều hành lãi suất theo lạm phát mục tiêu (7-8%). Một trong những lý do giải thích chỉ số giá tiêu dùng đang giảm mạnh là nhờ chuyển từ bị động đối phó với lạm phát, sang chủ động điều hành theo lạm phát mục tiêu.
Lẽ ra với những công cụ lãi suất điều hành trong tay như lãi suất tái cấp vốn, NHNN phải lấy lạm phát là mục tiêu nhắm đến và việc điều chỉnh lãi suất lên xuống như một công cụ là nhằm đạt được con số lạm phát mong muốn chứ không phải ngược lại. Nói như Thống đốc thì doanh nghiệp không thể trông chờ vào việc lãi suất sẽ giảm vì còn phụ thuộc vào yếu tố lạm phát cao hay thấp trong khi nhiệm vụ của NHNN là “ổn định giá trị đồng tiền biểu hiện bằng chỉ tiêu lạm phát” và “sử dụng các công cụ và biện pháp để thực hiện mục tiêu đề ra” (Luật Ngân hàng Nhà nước).
                               *                                *                                  *
Từ cuộc họp này cũng nổi lên một nghịch lý khác. Đó là việc nhiều doanh nghiệp “chê trách” ngân hàng không chịu mở hầu bao cho doanh nghiệp vay, rằng ngân hàng còn xa doanh nghiệp như tít một bài báo phản ánh không khí cuộc họp. Một số doanh nghiệp khác cho rằng ngân hàng chỉ mặn mà làm ăn với doanh nghiệp tốt, đang ăn nên làm ra còn rất khắc khe với doanh nghiệp đang gặp khó khăn nên không cứu giúp được gì cho đa số doanh nghiệp cả.
Giới ngân hàng đang canh cánh nỗi lo nợ xấu, là hậu quả của việc mở rộng tín dụng tràn lan trong những năm trước đây khi có năm tăng trưởng tín dụng lên đến trên 50%. Nay ngân hàng quản trị rủi ro chặt chẽ, đưa ra điều kiện khắc khe trước khi cho vay là điều đáng mừng, sao lại chê trách.
Ngân hàng chỉ là nơi trung gian, huy động vốn rồi cho vay, nếu chỉ huy động mà không tìm được đầu ra cho nguồn vốn thì ngân hàng cũng chịu gánh nặng hàng tồn kho – tồn kho tiền và sẽ gánh chịu nhiều tổn thất. Thật ra, tình trạng ngân hàng không thể cho vay được, vốn ứ đọng trong hệ thống và tăng trưởng tín dụng 7 tháng đầu năm dưới 1% là do những nguyên nhân khác chứ không hẳn vì ngân hàng “xa” doanh nghiệp, ngân hàng thiếu tích cực, chủ động trong nghiệp vụ.
Ở nhiều nước, cụm từ “bẫy thanh khoản” được nhắc tới nhiều trong thời gian gần đây. Đó là tình trạng lãi suất về gần bằng không, chính sách tiền tệ mất tác dụng, ngân hàng ngồi trên một đống tiền nhưng không cho vay được. Tình trạng này cũng kéo theo giảm phát, sản xuất đình đốn, nền kinh tế suy thoái kéo dài, nợ xấu trong hệ thống ngân hàng tăng cao.
Ở Việt Nam, không có chuyện “bẫy thanh khoản” theo nghĩa các nước đang dùng bởi không có chuyện lãi suất về gần bằng không hay việc tăng cung tiền không nhằm để nới lỏng chính sách tiền tệ mà chỉ nhằm cải thiện thanh khoản cho hệ thống ngân hàng và do bơm tiền đồng mua ngoại tệ trong những tháng đầu năm. Tuy nhiên, những biểu hiện khác của “bẫy thanh khoản” là rất rõ ràng. Cho dù lãi suất huy động đã giảm mạnh, ngân hàng vẫn không thể cho vay được bởi khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế hiện rất yếu kém. Doanh nghiệp vay tiền, sản xuất ra hàng hóa mà không bán được thì họ sẽ không vay làm gì; ngân hàng biết doanh nghiệp vay tiền cũng không thể tạo ra dòng tiền mới để trả nợ thì làm sao họ cho vay. Hiện nay tái cơ cấu các khoản nợ cũ, tức là đảo nợ, cho doanh nghiệp đã làm cho ngân hàng tiêu tốn hết mọi thời gian và nguồn lực cũng như tác động rất lớn vào lợi nhuận sắp tới của ngân hàng nên họ không mặn mà cho vay mới. Vì thế mới có chuyện ngân hàng mạnh tay mua trái phiếu chính phủ hay tín phiếu NHNN.
Đây là giai đoạn nền kinh tế tìm cách cân bằng trở lại sau một thời gian dài thổi phồng bong bóng bất động sản và các loại tài sản khác, đòn bẩy tài chính (vay nợ ngân hàng) được sử dụng tối đa. Nay giới doanh nghiệp lo giảm tỷ lệ nợ vay trên vốn còn giới ngân hàng lo giải quyết nợ xấu để làm đẹp sổ sách. Khi đi tìm sự cân bằng thì không ai mặn mà với tín dụng mới – đây là thực tế phải chấp nhận chứ không có chuyện đối đầu giữa doanh nghiệp và ngân hàng.

Wednesday, August 1, 2012

Thị trường và phi thị trường


Thị trường và phi thị trường
* Vì sao những biện pháp phi thị trường lại được dư luận trông chờ và không bị doanh nghiệp phản ứng mạnh? Vì sao hiện tượng này sẽ có những hệ quả xấu về lâu về dài?
Nếu đứng về lý, rất dễ bác bỏ yêu cầu của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đối với các ngân hàng thương mại phải giảm lãi suất cho những khoản vay cũ về dưới 15%. Luật các tổ chức tín dụng quy định tại điều 91: Tổ chức tín dụng được quyền ấn định mức lãi suất huy động vốn; Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất. NHNN không có cơ sở pháp lý nào để yêu cầu các ngân hàng thương mại hạ lãi suất cho những khoản đã cho vay bình thường. Đây là giao kết dân sự giữa hai bên, không liên quan gì đến NHNN. Các ngân hàng thương mại đã huy động vốn dài hạn với lãi suất cao thì cũng phải cho vay cao tương ứng nếu không muốn thua lỗ.
Thế nhưng trên thực tế, hầu như không có sự phản đối công khai nào từ phía các ngân hàng thương mại. Họ chỉ đối phó bằng các chiêu thức thường thấy như trì hoãn, chọc lọc người vay để giảm lãi suất, đặt ra những điều kiện bổ sung… Công khai chỉ thấy các lời trần tình, cần thêm thời gian, cần sự đồng thuận của hội đồng quản trị, cần cân nhắc rủi ro… Trong khi đó, không ít phương tiện thông tin đứng về phía doanh nghiệp đi vay để chất vấn giới ngân hàng: “Hạ lãi suất, không lẽ là chuyện đùa?” Quan chức NHNN cũng khẳng định sẽ xử lý các ngân hàng không chịu giảm lãi suất cho các khoản vay cũ.
Không lẽ tinh thần tôn trọng nguyên tắc thị trường trong lãnh vực ngân hàng đã lụi tàn? Nguyên do chính là vì giới ngân hàng từng bỏ lơ nguyên tắc thị trường để được hưởng lợi từ lâu nay khó lòng nói khác.
Nếu áp dụng đúng nguyên tắc và tôn trọng luật lệ một cách đằng thẳng, nhiều ngân hàng không thể nào vượt qua yêu cầu tăng vốn điều lệ mấy năm trước, không thể nào cho nhiều dự án “sân sau” vay vượt quá tỷ lệ quy định, không thể nào cho vay vượt quá mức huy động… Tình trạng sở hữu chéo giữa các ngân hàng cũng không dễ diễn ra. Quan trọng hơn cả, tình hình nợ xấu không thể che giấu và báo cáo sai lệch như thời gian qua được. Vì nỗi lo cho sự an toàn của cả hệ thống, NHNN từng đối xử với mọi ngân hàng, cả tốt lẫn xấu như nhau, không công khai sức khỏe của từng ngân hàng để khách hàng chọn lựa, không xử lý mạnh các sai phạm của một số ngân hàng khác…
Sự nương nhẹ của cả hai bên dẫn tới tình trạng như hiện nay khi NHNN điều hành thị trường bằng mệnh lệnh hành chính và hướng điều hành là tùy thuộc vào lợi ích hay mục tiêu ngắn hạn. Cứ mãi như thế, biết bao giờ mới khởi động quá trình tái cơ cấu thật sự hệ thống ngân hàng, làm cho nó lành mạnh và hoạt động đúng nguyên tắc thị trường?
*                      *                      *
* Thu nhập đầu người của Việt Nam tính trên cơ sở cân bằng sức mua (PPP) đang giảm mạnh. Để dễ hình dung, hãy lấy một ví dụ được đơn giản hóa: cách đây 5 năm, khi tỷ giá tiền đồng là khoảng 16.000 đồng ăn 1 đô-la Mỹ, tiền công hớt tóc là 16.000 đồng. Lúc đó so với giá hớt tóc bên Mỹ đến 10 đô-la, dân Việt Nam chỉ cần tốn chừng 1 đô-la. Nay giả thử giá hớt tóc bên Mỹ không thay đổi nhưng ở Việt Nam đã lên trên 40.000 đồng; với tỷ giá trên 20.000 đồng ăn 1 đô-la Mỹ, người ta phải bỏ ra chừng 2 đô-la mới đủ tiền hớt tóc.
Lạm phát cao trong nhiều năm liền trong khi tỷ giá thay đổi chậm hơn tốc độ lạm phát là nguyên nhân cho tình trạng nói trên. Việc thổi phồng giá trị tài sản các loại nói ở phần trước cũng là tác nhân quan trọng. Nếu trước đây mặt bằng giá cả tương đối rẻ ở Việt Nam là một lợi thế thì nay lợi thế đó đang dần biến mất.
Nhiều nhà đầu tư nước ngoài than, chi phí ở Việt Nam tăng vọt trong khi doanh thu tính bằng tiền đô-la không tăng với mức tương ứng, làm hoạt động của họ ngày càng thêm khó khăn. Chi phí này gồm nhiều thứ, từ lương công nhân, tiền thuê đất, mua nhà xưởng, tiền điện, nước, xăng dầu, giá các nguyên liệu đầu vào mua ở Việt Nam. Lương công nhân đắt đỏ hơn một phần thì lương giới quản lý càng đắt đỏ bội phần vì đã tăng nhanh trong những năm qua.
Tình hình này càng gay gắt ở những doanh nghiệp xuất khẩu, làm hàng Việt Nam mất tính cạnh tranh trên thị trường thế giới. Thế là nhà xuất khẩu quay sang ép giá nông dân, làm giá đủ loại nông sản đang giảm mạnh.
Thu nhập đầu người tính theo PPP giảm là quá trình mà mọi nước đang phát triển phải đi qua nhưng ở Việt Nam trong những năm qua, quá trình nay diễn ra quá nhanh chóng. Hậu quả là mức sống của người dân, nhất là dân nghèo, đang giảm sút. Nếu trước kia họ tự an ủi, thu nhập của họ dù chỉ bằng 1 phần 10 thu nhập của một người bạn bên Mỹ nhưng hớt tóc cũng chỉ tốn ít hơn 10 lần; nay thì hết có chuyện so sánh như thế, không chỉ chuyện hớt tóc mà còn học phí cho con, tiền khám chữa bệnh, tiền đi lại...
Khổ nổi nhiều nơi không để ý đến yếu tố này mà chỉ khăng khăng so sánh với giá ở các nước khác mỗi khi muốn lập luận cho thuận tai việc tăng giá một mặt hàng hay dịch vụ nào đó.

Sunday, July 15, 2012

Nợ xấu, biệt phái và lương


Nợ xấu, biệt phái và lương
+ Có lẽ còn rất lâu chúng ta mới biết con số nợ xấu của hệ thống ngân hàng Việt Nam thực sự là bao nhiêu. Bởi mới chỉ cách đây mấy tuần, tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) báo cáo trước Quốc hội là 10%, sau đó lại được chính thức công bố cũng bởi NHNN là 4,47% và gần đây nhất lại là 8,6%!
Tuy nhiên, quan trọng hơn, số nợ xấu đó từ đâu ra, của ai gây nên, thuộc khu vực nào thì chưa bao giờ được công khai. Biết nguyên nhân của nợ xấu mới mong tìm giải pháp giải quyết nợ xấu.
Khu vực chiếm tỷ trọng nợ xấu lớn nhất ắt phải là các doanh nghiệp nhà nước mà dẫn đầu là các tập đoàn, tổng công ty nhà nước (chính NHNN cũng thừa nhận nợ xấu cho vay bất động sản không lớn, chỉ chiếm khoảng 10% tổng nợ xấu). Trong tổng dư nợ của doanh nghiệp nhà nước là trên 1 triệu tỷ đồng, chỉ cần 10% số này là nợ xấu, con số tuyệt đối đã lên trên 100.000 tỷ đồng, bằng với con số nợ xấu mà NHNN vừa công bố vào cuối tuần trước. Chỉ tính riêng hai doanh nghiệp nhà nước từng gây nhiều tai tiếng trong những năm gần đây là Vinashin và Vinalines thì tổng nợ của chúng, trong đó đa phần là nợ xấu, đã là những con số khổng lồ. Trong những năm qua, mỗi năm con số nợ đến hạn phải trả ở các doanh nghiệp này lên đến hàng chục ngàn tỷ đồng và đã biến thành nợ xấu!
Không cải cách toàn diện khu vực kinh tế nhà nước để loại bỏ các “điển hình tiêu cực” như Vinashin hay Vinalines thì khoan vội nói đến giải quyết nợ xấu. Thành lập công ty mua bán nợ có thể giải quyết các khoản nợ cũ nhưng chưa bịt được lỗ hổng về quản lý các doanh nghiệp nhà nước thì sớm muộn gì cũng sẽ nảy sinh những khoản nợ xấu mới. Không lẽ lúc đó lại tính chuyện thành lập tiếp công ty mua bán nợ mới?
*                      *                      *
+ Liên quan đến việc giám sát doanh nghiệp nhà nước, Bộ Tài chính vừa trình Chính phủ đề án thành lập tổng cục giám sát và quản lý vốn nhà nước, tài sản nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước. Điểm nhấn của đề án này là Bộ Tài chính sẽ biệt phái chừng 80 cán bộ xuống các tập đoàn, tổng công ty. Đại diện của Bộ cho báo chí biết 80 người này vẫn là công chức của Bộ Tài chính, không ăn lương của doanh nghiệp, được kỳ vọng sẽ giúp Bộ phát hiện kịp thời những sai sót trong sử dụng vốn nhà nước tại các tập đoàn, tổng công ty.
Kỳ vọng như thế e rằng đặt không đúng chỗ.
Đầu tiên, lãnh đạo các tập đoàn, tổng công ty nhà nước hiện nay đều do các bộ và Chính phủ cử xuống chứ không phải từ trên trời rơi xuống. Họ chính là người được cử để đại diện phần vốn sở hữu của Nhà nước; trong số họ có những người có hàm chức vụ cao cấp – 80 cán bộ của Bộ Tài chính làm sao sánh bằng. Tuy thế, một khi họ làm sai, như lãnh đạo Vinashin, Vinalines, thì vẫn cứ làm sai, không ai giám sát được.
Thứ đến, hoạt động của các tập đoàn, tổng công ty hiện đang dựa vào những quy chế được soạn thảo kỹ lưỡng, được ban hành bởi cấp cao nhất nên các bộ không can thiệp vào được – 80 cán bộ của Bộ Tài chính được kỳ vọng sẽ can thiệp bằng cách nào? Ví dụ, theo quy định hiện hành, Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng quản trị ủy quyền cho Tổng giám đốc được phép quyết định đầu tư vốn của một dự án có giá trị nhỏ hơn hoặc bằng 50% tổng giá trị tài sản ghi trên báo cáo tài chính. Tức là một tập đoàn có thể tự quyết định đầu tư một dự án lên đến hàng chục ngàn tỷ đồng. Cựu Bộ trưởng Kế hoạch & Đầu tư Võ Hồng Phúc từng than phiền về quy định này để chứng minh sự bất lực của bộ, không thể kiểm soát các dự án đầu tư của các tập đoàn. 80 cán bộ của Bộ Tài chính liệu có thể có thẩm quyền mạnh hơn Bộ trưởng Phúc?
Đến tận phút chót mà Bộ trưởng Giao thông - Vận tải Đinh La Thăng còn lầm về con người Dương Chí Dũng, nguyên Chủ tịch Vinalines với nhiều sai phạm, khi cử ông ta làm Cục trưởng Cục Hàng hải. Làm sao kỳ vọng 80 cán bộ Bộ Tài chính có một sự sáng suốt hơn – chưa kể khả năng họ bị biến chất như Dương Chí Dũng trong môi trường mới.
*                      *                      *
+ Trong một dự thảo khác, mức lương cơ bản của chủ tịch các tập đoàn, tổng công ty dự kiến được ấn định ở mức 36 triệu đồng/tháng, của tổng giám đốc là 34 triệu đồng/tháng…
Đối với nhiều người, đây là mức lương cao, thậm chí rất cao; đối với nhiều người khác, lương như thế là thấp, thậm chí quá thấp. Bởi một khi có con số tuyệt đối, sẽ luôn luôn có sự so sánh và kết luận cao thấp tùy kết quả so sánh. Nếu so với mức lương trên 240 triệu đồng/tháng của tổng giám đốc một công ty niêm yết hay mức lương phổ biến trên 100 triệu đồng/tháng của nhiều tổng giám đốc khác thì 36 triệu đồng là quá thấp. Nhưng nếu so với lương Bộ trưởng, Thủ tướng, Chủ tịch nước hay lương của công nhân thì nó lại khá cao. Không lẽ cán bộ dưới quyền Bộ trưởng được cử đi làm dưới doanh nghiệp, cuối cùng hưởng lương cao hơn lương Bộ trưởng?
Xét cho cùng, không nên quy định những mức lương cụ thể cho lãnh đạo các doanh nghiệp nhà nước mà phải gắn nó với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Lương của tổng giám đốc một công ty đại chúng được đại hội đồng cổ đông thông qua ở mức kỷ lục, đến hàng tỷ hay hàng chục tỷ đồng/năm là bởi người tổng giám đốc này sẽ đem về cho cổ đông những khoản lợi nhuận gấp thế hàng trăm lần. Lương một tổng giám đốc một tổng công ty nhà nước lớn bị chính người nhận đánh giá là quá thấp sẽ là động lực thúc đẩy người đó tư lợi, gây hại cho doanh nghiệp miễn sao đem lại lợi ích riêng cho mình.
Nhiệm vụ của dự thảo là xác định cho được sự tương quan giữa lương, thưởng của lãnh đạo doanh nghiệp nhà nước với thước đo, đo lường hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp ấy.

Thursday, July 12, 2012

Nóng vội!


Nóng vội!
Tại hội nghị sơ kết sáu tháng đầu năm và triển khai kế hoạch sáu tháng cuối năm của ngành ngân hàng vào cuối tuần trước, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Nguyễn Văn Bình thúc giục các ngân hàng phải kéo lãi vay nợ cũ xuống dưới 15%/năm.
Trong bối cảnh dư luận xã hội đang bất bình ngành ngân hàng vẫn cứ lãi lớn bất kể khó khăn của doanh nghiệp, lời thúc giục này ắt sẽ được nhiều người ủng hộ. Các doanh nghiệp đang phải vay vốn với lãi suất cao, không tiếp cận được các khoản vay ưu tiên, sẽ càng tán thành quan điểm của Thống đốc.
Thế nhưng xét ở bình diện nguyên tắc thị trường, chỉ thị của Thống đốc NHNN có nhiều điểm đáng bàn.
NHNN tác động vào mặt bằng lãi suất trên thị trường thông qua các loại lãi suất điều hành như lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu. Một loạt các loại lãi suất này vừa được NHNN điều chỉnh giảm từ đầu tháng 7 như lãi suất tái cấp vốn giảm từ 11% xuống còn 10%, lãi suất tái chiết khấu giảm từ 9% xuống còn 8%. Chính sách thường cần một thời gian để phát huy tác dụng, chứ không thể nóng vội sử dụng ý chí ra lệnh hành chính. Thật ra, từ đầu năm đến nay NHNN đã năm lần điều chỉnh giảm các loại lãi suất điều hành; nếu thị trường không hồi đáp với chính sách điều chỉnh, chứng tỏ sự điều hành của NHNN chưa đủ liều lượng hoặc thị trường đang có những đặc điểm làm cho sự xoay chuyển của NHNN khó khăn hơn nhiều lần.
Đặc điểm thứ nhất là hệ thống ngân hàng hiện không có động lực để cạnh tranh lành mạnh trong khi lãi suất cho vay chỉ có thể giảm khi các ngân hàng cạnh tranh nhau để cho vay. Trong con mắt của công chúng, ngân hàng tốt cũng như ngân hàng yếu kém đều được sự bảo bọc, che chắn của NHNN trong khi cạnh tranh để cho vay trong bối cảnh hiện nay là điều đem lại nhiều rủi ro cho ngân hàng. Chỉ khi nào NHNN loại bỏ yếu tố che chắn cho mối nguy đạo đức (moral hazard) thì mới mong khơi dậy yếu tố cạnh tranh ở các ngân hàng.
Đặc điểm thứ hai là nền kinh tế trong mấy năm gần đây đã trở thành con tin của hệ thống ngân hàng khi doanh nghiệp quá phụ thuộc vào vốn vay – mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính lên quá cao – không thể một sớm một chiều mà hóa giải ngay được. Theo chuyên gia kinh tế Jonathan Pincus trong một bài viết trên tờ Financial Times, tín dụng ngân hàng trên GDP đã tăng gấp đôi từ 62% vào năm 20005 lên đến 136% năm 2010. Tín dụng tăng vọt sau hai đợt: đợt đầu do dòng vốn bên ngoài chảy vào trong các năm 2007 và 2008; đợt sau do dòng vốn kích cầu chống suy thoái năm 2009 và đầu năm 2010. Bùng nổ tín dụng như thế đương nhiên dẫn tới nợ xấu. Ngân hàng hiện phải lo giải quyết nợ xấu cũng đã ngập đầu – làm sao trông mong họ giảm lãi suất để tăng cho vay? Ngược lại ở phía doanh nghiệp, làm sao để giảm bớt tỷ lệ vay nợ so với tỷ lệ vốn chủ sở hữu là xu hướng nên không thể trông mong họ hăm hở đi vay như những năm tín dụng dễ dãi trước đây.
Mới chỉ cách đây mấy tháng, báo chí liên tục đưa tin tăng lãi suất để chống lạm phát. Nay không thể đột ngột quay ngoắt 180 độ, thúc giục giảm lãi suất nếu không muốn lạm phát bùng nổ trở lại. Lãi suất tăng đã làm bộc lộ những yếu kém của cả doanh nghiệp lẫn ngân hàng. Một bên là đầu tư kém hiệu quả, bung ra tràn lan, nhất là sang lãnh vực địa ốc; một bên là khả năng quản lý rủi ro còn kém, lại ham chạy theo lợi nhuận, bất kể rủi ro. Những khó khăn vừa qua là bộ lọc, sàng lọc doanh nghiệp mạnh, làm ăn đàng hoàng, bền vững. Sao không hỗ trợ xu hướng đó mà lại vội vã thúc đẩy lòng tham của ngày trước bùng phát trở lại?

Ngược sáng

 Ngày trước lúc nào cũng nghe khuyên chụp ảnh thì đừng chụp ngược sáng. Có lẽ họ sợ chụp như thế mặt của người mẫu sẽ tối thui. Ngày nay máy...