Saturday, November 10, 2012

Tội đồ “lợi ích nhóm”?


Tội đồ “lợi ích nhóm”?
Việc đổ hết mọi tội lỗi lên lợi ích nhóm trong khi hiểu sai về khái niệm này chính là cách dùng con ngáo ộp làm che khuất thủ phạm của những kiếm khuyết trong bộ máy.
Xã hội lúc nào cũng có xu hướng hình thành những nhóm lợi ích. Đó đơn giản là những người cùng chia sẻ một mối quan tâm nào đó, một lợi ích nào đó và cùng nhau nỗ lực để công khai xúc tiến hỗ trợ cho lợi ích của mình được xem xét, được tính đến trong chính sách của nhà nước. Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Việt Nam (VAMA) hay Hiệp hội các nhà đầu tư tài chính Việt Nam (Vafi) là những nhóm như thế.
Còn cái gọi là “lợi ích nhóm” bị nêu ra như là thủ phạm của sự bất ổn trong nền kinh tế thật ra không phải là nhóm lợi ích. Một hai cổ đông lớn chi phối đến hoạt động của một ngân hàng, buộc ngân hàng cho vay với các công ty của các cổ đông này là hành động vi phạm pháp luật, là phù phép của nạn thao túng, lũng đoạn thị trường. Cán bộ địa phương lợi dụng quy hoạch để cùng doanh nghiệp chiếm đất, hưởng lợi từ chênh lệch giá đất là một hình thức tham nhũng, lạm quyền chứ ở đây không có lợi ích nhóm nào cả. Sự cấu kết giữa quyền lực và tiền bạc là nguy cơ mà lợi ích nhóm có thể thúc đẩy để diễn ra nhưng một khi nó đã diễn ra rồi thì không còn là lợi ích nhóm nữa mà là vi phạm pháp luật.
Quay trở lại với các nhóm lợi ích thật sự mà hoạt động vận động hành lang được xem là chuyện bình thường ở nhiều nước, nên ứng xử với họ như thế nào? Rõ ràng các nhóm lợi ích, vì đại diện cho một lợi ích nào đó của riêng nhóm này thôi, nên chủ trương, đề xuất hay hành động có thể đi ngược lại với lợi ích của đa số người dân. Nhiều lúc lập luận của một nhóm lợi ích tìm mọi cách để bảo vệ cho lợi ích của mình mà bỏ qua lợi ích của toàn xã hội nghe thật chướng tai. Nhưng không vì thế mà chúng ta lại lên án các nhóm lợi ích.
Một xã hội lành mạnh là xã hội tạo điều kiện cho tất cả mọi người, kể cả các nhóm lợi ích, có tiếng nói được lắng nghe, có cơ hội trình bày ý tưởng, phản biện lại các lập luận phản bác và bảo vệ ý kiến của mình. Giả định Hiệp hội Lương thực Việt Nam có chủ trương nào đó có lợi cho hội viên nhưng có hại cho nông dân thì ngay lập tức nông dân thông qua hội của mình sẽ có tiếng nói ngược lại. Các chủ đầu tư thủy điện cứ khăng khăng bảo vệ cho các dự án thủy điện thì các nhà hoạt động vì môi trường sẽ tô đậm tác hại của thủy điện hay người dân sẽ gây sức ép buộc chính quyền ngưng các dự án ảnh hưởng quá nhiều đến môi trường sống của họ. Các nhóm với tiếng nói khác nhau sẽ là động lực thúc đẩy xã hội phát triển trong sự giám sát lẫn nhau, trong đó tiếng nói của những nhóm người bị thua thiệt như dân nghèo phải được hỗ trợ để được vang lên mạnh như tiếng nói của người có tiền, có của.

Wednesday, November 7, 2012

Thương hiệu vàng quốc gia?

Thương hiệu vàng quốc gia, có cần không?
Chuyện vàng trở thành đề tài bàn tán sôi nổi, cả ngoài xã hội lẫn trên hội trường Quốc hội. Nhưng có một câu hỏi chưa thấy ai, kể cả các quan chức ở Ngân hàng Nhà nước (NHNN) trả lời: Vì sao cần có một thương hiệu vàng quốc gia?

Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Bình chỉ giải thích vì sao chọn SJC làm thương hiệu vàng quốc gia (“SJC chiếm 93-95% thị trường vàng miếng; để tránh sự nhầm lẫn và lãng phí nên chúng tôi chọn thương hiệu này”) mà không nói vì sao cần phải có một sự chọn lựa như thế. Ông khẳng định không hề bắt buộc người dân phải chuyển đổi từ các loại vàng khác sang vàng SJC cũng như không hề có sự phân biệt đối xử giữa các loại vàng này. Thế thì chọn SJC làm thương hiệu vàng của NHNN để làm gì?
Nếu nói NHNN đang nỗ lực chống hiện tượng “đô-la hóa”, “vàng hóa” trong nền kinh tế thì việc có một thương hiệu vàng quốc gia lại góp phần làm nặng thêm tình trạng “vàng hóa” chứ đâu phải ngược lại.
Theo thông lệ quốc tế, vàng được chia làm hai loại: vàng tiền tệ và vàng phi tiền tệ, tức là vàng hàng hóa. Vàng tiền tệ là vàng do ngân hàng trung ương sở hữu và nắm giữ làm tài sản dự trữ, lúc đó vàng cũng tương đương như ngoại tệ. Ví dụ, chính phủ Mỹ nắm giữ 8.133 tấn vàng, chiếm đến 76,6% tổng dự trữ ngoại tệ của nước này; hay Trung Quốc có chừng 1.054 tấn vàng dự trữ, chỉ chiếm 1,8% tổng dự trữ ngoại tệ (số liệu cuối năm 2010). Vàng phi tiền tệ là vàng do người dân, doanh nghiệp hay thậm chí do các ngân hàng thương mại nắm giữ cho dù mục đích là kinh doanh hay lưu giữ giá trị.
Nếu NHNN bỏ tiền ra mua vàng đưa vào kho dự trữ của mình thì lúc đó mới gọi là hạn chế tình trạng “vàng hóa”. Vàng đưa vào dự trữ là vàng thỏi bốn số 9, chứ cần gì phải là vàng có thương hiệu quốc gia. Đằng này khi quyết định chọn SJC làm thương hiệu vàng quốc gia trong khi trong tay nắm không bao nhiêu số lượng vàng này, có nghĩa NHNN đã “vàng hóa” trên quy mô lớn, thậm chí là rất lớn, bởi vàng SJC trong tay người dân có khả năng biến thành vàng tiền tệ trong một sớm một chiều. Hay nói cách khác, vàng SJC trong dân từ chỗ là hàng hóa bình thường nay bỗng trở thành một dạng ngoại tệ, càng làm chính sách tiền tệ khó điều hành.
Nhìn như thế mới thấy vì sao giữa vàng SJC và vàng thương hiệu khác đang có chênh lệch lớn về giá, vì sao người dân cứ chuyển đổi vàng phi SJC thành vàng SJC cho yên tâm bất kể lời trấn an hay lời khuyên của quan chức không nên vội vàng chuyển đổi.
Ở góc độ quản lý, có người giải thích, sở dĩ NHNN quyết định có một thương hiệu vàng quốc gia là để ngăn ngừa chuyện nhập lậu vàng, làm thất thoát ngoại tệ và gây căng thẳng tỷ giá. Mỗi khi giá vàng trong nước cao hơn giá vàng quốc tế, dân buôn lậu sẽ thu gom đô-la Mỹ đem ra nước ngoài mua vàng, chuyển lậu về Việt Nam để hưởng chênh lệch giá. Nay vàng lậu đem về lại bằng giá quốc tế (hiện giá vàng phi SJC thấp hơn giá vàng SJC nên gần như tương đương giá vàng thế giới) thì sẽ không còn ai buôn lậu, cầu ngoại tệ không có thì áp lực lên tỷ giá sẽ không tồn tại.
Ở đây chúng ta thấy ngay hàng loạt lỗ hổng về quản lý. Có gì bảo đảm vàng lậu nhập về không được chuyển thành vàng SJC với chi phí không đáng kể dưới dạng vàng phi SJC muốn chuyển đổi thành vàng SJC? Hiện nay quá trình này vẫn đang diễn ra và NHNN chịu áp lực phải giúp chuyển đổi nhanh, đi đến chỗ không còn chênh lệch giá giữa các loại vàng. Như thế chọn SJC làm thương hiệu vàng quốc gia có giúp ổn định tỷ giá chăng? Có ai bảo đảm tỷ giá không biến động nhờ chính sách vàng hay nhờ Việt Nam từ chỗ nhập siêu lớn sang xuất siêu hay do đồng đô-la Mỹ yếu đi so với nhiều đồng tiền khác? Quan trọng hơn, một khi NHNN khẳng định không phân biệt đối xử giữa các loại vàng thì làm sao hạn chế được vàng nhập lậu như mong muốn.
Việc quyết định phải có một thương hiệu vàng quốc gia đang gây ra nhiều xáo động trên thị trường, tạo ra nhiều khe hở dễ bị lợi dụng, đồng thời tạo ra cơ chế xin cho nên sẽ có nhiều người hưởng lợi và nhiều người, chủ yếu là người dân thiếu thông tin bị thiệt hại.
Đáng ngạc nhiên nhất, thương hiệu vàng quốc gia là chuyện nói miệng chứ không có cơ sở pháp lý nào cả. Nghị định 24/2012/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý hoạt động kinh doanh vàng hoàn toàn không có dòng nào về thương hiệu vàng quốc gia. Nghị định này chỉ nêu nguyên tắc quản lý là “Nhà nước độc quyền sản xuất vàng miếng” và định nghĩa rõ: “Vàng miếng là vàng được dập thành miếng, có đóng chữ, số chỉ khối lượng, chất lượng và ký mã hiệu của doanh nghiệp và tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho phép sản xuất hoặc vàng miếng do Ngân hàng Nhà nước tổ chức sản xuất trong từng thời kỳ”. Rõ ràng tinh thần của Nghị định này là sẽ tồn tại song song nhiều thương hiệu vàng miếng chứ đâu nói gì đến một thương hiệu vàng quốc gia!

Thursday, November 1, 2012

Mặc cả sự tín nhiệm


Mặc cả sự tín nhiệm
Thoạt trông, nỗ lực thông qua nghị quyết lấy phiếu tín nhiệm đối với một số chức danh lãnh đạo của Quốc hội là đáng ghi nhận bởi thông qua công cụ này, Quốc hội sẽ đóng tốt hơn vai trò giám sát của mình. Trong bối cảnh bộ máy Chính phủ có nhiều yếu kém, khuyết điểm để người đứng đầu phải đứng ra nhận lỗi thì việc lấy phiếu tín nhiệm hay bỏ phiếu tín nhiệm là động thái người dân trông chờ để bày tỏ thái độ thông qua người đại diện dân cử của mình.
Tuy nhiên, việc gì cũng có mặt trái của nó và mặt trái của việc lấy phiếu tín nhiệm nếu không được phân tích đầy đủ và có biện pháp khắc phục thì nỗ lực này của Quốc hội khó lòng có tác dụng như mong muốn.
Việc lấy phiếu tín nhiệm, trước hết, sẽ cổ xúy cho cách điều hành rất ngắn hạn, làm triệt tiêu tầm nhìn dài hạn, khi phải đánh đổi giữa các thiệt hại ngắn hạn vì những mục tiêu lâu dài. Lấy ví dụ đối với Bộ trưởng Tài chính, để khắc phục tình trạng bội chi năm nào cũng cao ngất, sẽ phải nghiêm khắc với các yêu cầu chi tiêu của các địa phương, phải xiết hầu bao không để lợi ích địa phương, sự vận động của địa phương tác động lên dự toán ngân sách chung. Vì tầm nhìn dài hạn, giải quyết cán cân thu chi ngân sách, Bộ trưởng Tài chính cũng sẽ mạnh tay với các bộ ngành khác, không để việc xin cấp ngân sách diễn ra tràn lan, lãng phí và trùng lắp… Trong bối cảnh các đại biểu Quốc hội đồng thời là lãnh đạo các địa phương và bộ ngành, liệu họ có đồng tình với một vị bộ trưởng tài chính nghiêm khắc với túi tiền ngân sách hay sẽ dùng lá phiếu tín nhiệm để mặc cả chuyện phân bổ?
Một ví dụ khác dựa vào tình hình thực tế hiện nay là chuyện giải quyết nợ xấu. Muốn giải quyết nợ xấu, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước sẽ phải siết chặt việc cho vay của hệ thống ngân hàng, từ đó lại gián tiếp gây khó khăn cho doanh nghiệp và nền kinh tế nói chung. Để đối phó với bong bóng tài sản bị xẹp làm tài sản thế chấp bị bốc hơi, Thống đốc cũng sẽ phải cần vài ba năm, trong đó tín dụng tăng trưởng chậm lại, ngân sách phải gánh chịu những khoản chi lớn để làm sạch hệ thống ngân hàng… Một Thống đốc mạnh tay như thế sẽ không được lòng nhiều người trong ngắn hạn để đổi lại sự lành mạnh hóa hệ thống ngân hàng sau vài ba năm nữa. Đánh giá tín nhiệm đối với Thống đốc trong trường hợp này sẽ như thế nào? Chẳng lạ gì thống đốc ngân hàng trung ương nhiều nước có nhiệm kỳ dài, không bị bãi miễn trước hạn.
Tương tự như vậy, giả thử Chính phủ kiên quyết tái cơ cấu nền kinh tế, có nghĩa trước mắt tạm chấp nhận tăng trưởng chậm đi, thất nghiệp nhiều hơn, doanh nghiệp phá sản cao hơn mới mong chuyển thành công qua mô hình phát triển mới. Liệu những năm khó khăn đó, ai trong Chính phủ sẽ chịu tín nhiệm thấp? Khi đa phần đại biểu Quốc hội, người bỏ phiếu tín nhiệm đồng thời là người trong bộ máy nhà nước, cách chức danh như thanh tra, kiểm toán sẽ đụng chạm nhiều nên sẽ có xung đột lợi ích khi lấy phiếu tín nhiệm.
Quan trọng hơn, trong bộ máy nào cũng vậy, sẽ có người tiếp xúc nhiều với người dân nên cũng dễ xảy ra tranh cãi về phương pháp làm việc; sẽ có người ít khi xuất hiện trước công chúng, khó lòng đánh giá hiệu quả làm việc. Không lẽ lấy phiếu tín nhiệm người đứng mũi chịu sào sẽ chặt tay hơn người lùi lại đằng sau.
Trên đây là những chuyện giả định bởi hiện nay cách điều hành thường là chạy theo “giải pháp tình thế” chứ làm gì có chuyện tầm nhìn dài hạn nhưng các ví dụ cũng cho thấy hiệu ứng ngược của việc lấy phiếu tín nhiệm có thể xảy ra.
Mấu chốt của vấn đề là làm sao việc lấy phiếu tín nhiệm không làm tê liệt bộ máy hành chính mà là một công cụ để kiểm soát quyền lực và thúc đẩy bộ máy vận hành tốt hơn.
Để giải quyết những vấn đề nêu ở trên, thiết nghĩ việc lấy phiếu tín nhiệm không nên mở rộng quá nhiều chức danh lãnh đạo để khỏi mang tính hình thức, làm qua loa, không công bình giữa người làm nhiều và người làm ít. Chịu trách nhiệm cho mỗi bộ máy có người đứng đầu, người này sẽ quyết định được ê-kíp làm việc có thực sự hiệu quả không, sẽ biết rõ từng thành viên có đáp ứng được nhu cầu của bộ máy hay không, sẽ phân biệt được lợi ích dài hạn và lợi ích ngắn hạn. Lấy phiếu tín nhiệm một số người đứng đầu sẽ có tác dụng to lớn hơn nhiều trong vai trò giám sát bộ máy. Bởi trong nhiều trường hợp, từng cá nhân trong bộ máy thì không có vấn đề gì nhưng bộ máy nhìn chung vẫn trì trệ, không thoát khỏi quán tính cũ. Lúc đó vấn đề đặt ra là chuyện tín nhiệm hay không người tổ chức ra bộ máy đó.
Muốn làm được điều này, người đứng đầu bộ máy phải thật sự có quyền chọn và loại thải những người giúp việc bên dưới, chứ không thể để chuyện “trên bảo, dưới không nghe” diễn ra. Người đứng đầu phải có tầm nhìn và tư duy sao cho con đường phát triển trong năm bảy năm tới được trình bày rõ ràng, nói được những khó khăn sẽ gặp phải trên chặn đường này và mục tiêu sau cùng sẽ nhắm đến là gì. Lúc đó, lấy phiếu tín nhiệm sẽ là cách thể hiện sự tín nhiệm cho lộ trình đó hay bất tín nhiệm để chọn lộ trình khác.

Thursday, October 25, 2012

In tiền để tăng lương?!


In tiền để tăng lương?!
Tuần qua, vấn đề tăng lương lại nóng lên khi được đưa ra bàn trước Thường vụ Quốc hội. Theo lộ trình cải cách tiền lương, từ ngày 1-5-2013, lương tối thiểu sẽ tăng từ 1,05 triệu đồng lên mức 1,3 triệu đồng/tháng. Thế nhưng Bộ trưởng Tài chính Vương Đình Huệ cho biết không thể bố trí nguồn ngân sách để thực hiện lộ trình tăng lương, “trừ phi Thường vụ Quốc hội đồng ý cho in thêm tiền”.
Phải nói thẳng, đây là một tuyên bố không nghiêm túc!
Việc tăng lương nằm trong lộ trình đã định từ trước, có nghĩa ngân sách 2012 và 2013 đã chuẩn bị trước các nguồn tiền để thực hiện. Nay ngân sách không kham nổi thì Bộ trưởng Tài chính phải chịu trách nhiệm giải trình vì sao, hụt thu ở nguồn nào, cách giải quyết ra sao trước khi loại bỏ một mục chi lớn đã được phê duyệt. Ngân sách nhà nước cũng không phải là chuyện nhỏ để muốn tăng chi ở một mục nào đó thì chỉ cần Thường vụ Quốc hội đồng ý cho in thêm tiền. Đây là một cách nói dễ gây hiểu nhầm rất tai hại. Quốc hội là nơi thông qua ngân sách hàng năm, kèm theo đó là mức bội chi được phê duyệt chung. Nhiệm vụ của Chính phủ là thuyết trình vì sao cần tăng thêm bội chi, cho khoản mục nào, cách bù đắp sau đó sẽ ra sao để thuyết phục đại biểu Quốc hội bấm nút thông qua. Không hề có chuyện Thường vụ Quốc hội có thẩm quyền cho in thêm tiền để tăng lương! Vậy mà cũng chẳng thấy các quan chức trong Thường vụ Quốc hội nói lại cho rõ.
Ở hướng ngược lại, Ủy ban Tài chính Ngân sách Quốc hội hoàn toàn có lý khi gợi ý thay vì tăng lương từ 1,05 triệu lên 1,3 triệu đồng/tháng thì có thể chỉ tăng lên 1,15 triệu đồng/tháng. Nhưng để ý kiến này mang tính thuyết phục cao hơn, cần yêu cầu Bộ Tài chính trình bày cụ thể, với phương án này mức tăng cho ngân sách là bao nhiêu, với phương án kia, thiếu hụt sẽ lên đến bao nhiêu và các phương án bù đắp. Quốc hội là nơi buộc các thành viên của Chính phủ phải trần tình với số liệu chuẩn bị đầy đủ - chứ không phải là nơi mặc cả chuyện… in tiền để chi tiêu.
Trong câu chuyện này, cần phân biệt hai khái niệm “tăng lương” và “bù trược giá”. Lương tối thiểu của công chức, viên chức được tăng từ 730.000 đồng lên 830.000 đồng/tháng trong năm 2011 (tăng 13,7%) và lên 1.050.000 đồng/tháng trong năm 2012 (tăng 26,5%). Trong khi đó lạm phát của năm 2010 là 11,75% và năm 2011 là 18,13%. Như thế nếu loại trừ yếu tố trược giá, mức tăng lương trong những năm vừa qua là không đáng kể. Hay nói cách khác mức tăng lương này không theo kịp mức tăng danh nghĩa tổng thu nhập quốc dân (GDP danh nghĩa năm 2010 tăng 19,4% và năm 2011 tăng 28%).
Như vậy những “mức tăng” lương tối thiểu những năm trước chưa thể nào gọi là góp phần nâng cao mức sống của cán bộ, công chức, người lao động… mà chỉ mới phần nào bảo vệ thu nhập của họ trước cơn bão tăng giá.
Nay cũng vậy, ngân sách phải có nhiệm vụ ít nhất bảo đảm thu nhập tối thiểu của người hưởng lương từ ngân sách không bị hao hụt vì lạm phát chứ khoan nói gì đến chuyện tăng lương. Đặt vấn đề như thế để thấy trách nhiệm của Bộ Tài chính là bảo đảm ngân sách kham được chuyện này, ít nhất như các năm vừa qua.
Điều đáng nói hơn nữa, trong những lần tăng lương tối thiểu trước đây, rõ ràng không phải tất cả khoản tăng dồn về ngân sách trung ương phải gánh chịu. Chẳng hạn để tăng lương các đơn vị sự nghiệp thuộc ngành y tế được sử dụng tối thiểu 35% khoản thu được để lại trong khi ngành này vừa tăng viện phí trong năm nay. Không biết Bộ Tài chính đã tính toán chi ly những khoản như thế hay chưa trước khi tuyên bố ngân sách không kham nổi.

Thursday, October 18, 2012

Những người xây chợ đặc biệt


Những người xây chợ đặc biệt
Chợ là nơi mua bán trao đổi hàng hóa dịch vụ. Quy luật cung cầu của chợ phát huy tác dụng khi bên mua bên bán gặp nhau thông qua giá cả thỏa thuận. Thế nhưng gặp những chợ đặc biệt nơi tiền không đóng vai trò quan trọng thì sao? Giải Nobel Kinh tế năm nay giải quyết câu hỏi đó.
Tuyển sinh đại học là một dạng chợ đặc biệt. Các trường đại học danh tiếng như Harvard không thể cứ đưa ra giá học phí thật cao đến mức tuyển vừa đúng được số người muốn tuyển có đủ khả năng tài chính để trả học phí cao này. Ngược lại các trường cũng không thể chỉ nhận đúng 1.000 hồ sơ nếu muốn tuyển 1.000 sinh viên bởi sinh viên cũng nộp hồ sơ nhiều trường, sinh viên giỏi cũng có nhiều chọn lựa, sẵn sàng từ chối nhiều trường.
Có lẽ những nhà quản lý giáo dục nước ta, thường phải đau đầu giải quyết bài toán nguyện vọng 1, nguyện vọng 2 của học sinh khi dự tuyển vào lớp 10, hiểu rõ vấn đề này nhất. Tuyển sinh vào các trường công lập ở New YorkBoston cũng gặp vấn đề tương tự. Theo cách làm cũ, học sinh nộp đơn vào nguyện vọng 1, thường là trường tốt nhất, được nhiều người xin vào học nhất. Nếu không được tuyển, học sinh sẽ chuyển qua nguyện vọng 2, cũng là trường tốt thứ nhì nên cũng đông không kém và đã tuyển đủ người. Cứ như thế, một học sinh lẽ ra có thể vào được trường nguyện vọng 3 nhưng bị trượt hết vì đã không sắp xếp các nguyện vọng một cách khôn ngoan.
Đến đây Alvin Roth xuất hiện. Ông đã thiết kế những cơ chế sàng lọc và ghép nối sao cho kết quả sau cùng làm cả nhà trường và học sinh đều hài lòng. Công việc này gọi là “thiết kế thị trường” và những nỗ lực của Roth trong thực tế, từ việc thiết kế cơ chế sắp xếp sinh viên y khoa vào đúng bệnh viện nội trú đến mai mối những người hiến tạng và cần ghép tạng với nhau đã giúp ông đoạt giải Nobel Kinh tế năm nay.
Để hiểu được thuật toán dùng trong việc ghép nối này, thử hình dung chuyện mai mối một nhóm đàn ông với một nhóm đàn bà. Để có kết quả tối ưu, các bà phải áp dụng chiến thuật “chấp nhận trong trì hoãn”. Đầu tiên, mỗi ông ngỏ ý với người họ thích nhất. Dĩ nhiên sẽ có bà nhận được nhiều lời dạm ý và có bà không có ai hỏi han. Các bà nhận được nhiều lời ngỏ ý sẽ từ chối những ông nào họ ít thích nhất nhưng chưa quyết định chọn ai trong số còn lại. Các ông bị từ chối lại ngỏ lời một vòng khác, cứ thế cho đến khi không còn ai bị từ chối. Lúc đó các bà mới đưa ra chọn lựa của mình và việc mai mối thành công.
Điều ít người để ý là Roth xuất thân là một kỹ sư. Ông lấy bằng tiến sĩ về nghiên cứu vận hành tổ chức, tức dùng thuật toán để giúp các tổ chức hoạt động hiệu quả hơn. Năm 1995, người ta đã nhờ ông cải tiến cách sắp xếp sinh viên y khoa về các bệnh viện nội trú vì nó đã trở thành một mớ bòng bong. Ví dụ hệ thống cũ khó lòng sắp xếp hai vợ chồng cùng là bác sĩ về cùng một bệnh viện hay ít nhất cũng được ở gần nhau. Trước đó Roth, từng nghiên cứu về lý thuyết trò chơi, đã viết nhiều về hệ thống sắp xếp này với những nguyên tắc gợi ý để giải quyết những tồn tại của nó. Bắt tay vào việc, Roth đưa ra một thuật toán sắp xếp mới và thành công trên mức mong đợi. Roth bắt đầu nổi tiếng như một người thay vì quan sát, nghiên cứu thế giới đã áp dụng lý thuyết để giải quyết những bài toán của thực tế. Bài học “thiết kế thị trường” của ông được áp dụng trong nhiều lãnh vực, từ các trang web chuyên mai mối đến cách các trường sắp xếp thời khóa biểu sao cho hợp lý nhất.
Công trình của Roth cứu được nhiều mạng người khi áp dụng vào chuyện ghép tạng. Một cặp vợ chồng, chẳng hạn, vợ cần ghép thận nhưng chồng không hiến được vì không cùng nhóm máu. Một cặp vợ chồng khác cũng rơi vào tình huống tương tự. Nhờ Roth, một trung tâm dữ liệu hình thành để những cặp như thế có thể gặp nhau, chồng cặp này hiến thận cho vợ cặp kia và ngược lại. Thuật toán của Roth giúp các bệnh viện sẵn sàng chia sẻ thông tin, từ đó mới ghép nối các cặp với nhau và giảm đến mức tối thiểu số lượng các cặp cần thiết để trao đổi thành công.
Thế nhưng các công trình trong thực tế của Alvin Roth (60 tuổi) sẽ khó lòng diễn ra nếu trước đó không có Lloyd Shapley (89 tuổi) tiên phong đưa ra những lý thuyết làm nền tảng cho việc “thiết kế thị trường”. Shapley, nhận bằng tiến sĩ toán học từ năm 1953, được xem là một trong những nhà lý thuyết trò chơi hàng đầu cùng thời với nhà toán học nổi tiếng John Nash. Chuyện mai mối các cặp nói ở trên chính là ý tưởng của Shapley từ năm 1962. Lúc đó Shapley (với đồng tác giả là David Gale trong bài viết “Tuyển sinh đại học và tính ổn định của hôn nhân”) khái quát hóa một lý thuyết về nguyên tắc có thể tạo ra những cuộc hôn nhân bền vững: nếu để các cặp tìm nhau như trên, sẽ không còn ai muốn ly hôn để đi lấy người khác. Vì thế lý thuyết của ông được gọi là “phân bổ bền vững”. Dĩ nhiên lý thuyết này không thể áp dụng vào hôn nhân thực tế nhưng đã thành công trong các dự án mà Roth thực hiện.
Roth hiện đang giảng dạy tại trường Stanford sau nhiều năm dạy tại Harvard còn Shapley là giáo sư hưu trí của trường UCLA. Cả hai là người Mỹ.
Giải Nobel Kinh tế năm nay được đánh giá là đã cứu vãn uy tín của kinh tế học nhờ áp dụng lý thuyết để giải quyết các bài toán của cuộc sống một cách thành công. Kinh tế học gần đây bị chê trách là không dự đoán được các biến động kinh tế, các cuộc khủng hoảng tài chính trong khi các nhà kinh tế thay nhau tranh cãi về mọi vấn đề. Tuy nhiên công trình của hai ông Shapley và Roth có thuần túy là kinh tế học hay không cũng là điều đáng bàn bởi chính Shapley cho biết: “Tôi tự xem mình là nhà toán học trong khi giải trao cho kinh tế học. Tôi chưa bao giờ, chưa bao giờ ghi danh học lớp kinh tế học nào trong đời tôi”.


Friday, October 12, 2012

Tiền đâu ra?


Tiền đâu ra?
Khi nói đến các chương trình an sinh xã hội, điều đầu tiên phải nghĩ đến là kinh phí để thực hiện. Ngân sách nhà nước hàng năm là con số hầu như đã cố định, chi cho an sinh xã hội tăng lên thì phải giảm bớt các khoản mục chi tiêu khác xuống. Tăng chi cho an sinh xã hội để giảm bớt các cảnh đời khốn khó của người nghèo có lẽ là điều ai cũng mong muốn.
Thế nhưng một nghịch lý hiện nay là tiếng nói của người nghèo, đối tượng cần nhận được sự hỗ trợ từ các chương trình an sinh xã hội nhiều nhất, rất mờ nhạt trong khi tiếng nói của giới có thu nhập cao hơn lại mạnh hơn, chi phối đến dư luận nhiều hơn.
Lấy ví dụ, cách đây không lâu có ý kiến từ Ủy ban Tài chính ngân sách của Quốc hội đề xuất giảm mức khởi điểm chịu thuế lẫn mức giảm trừ gia cảnh xuống. Nói cách khác ủy ban này muốn nhiều người nộp thuế thu nhập cá nhân hơn, số tiền thuế nộp cao hơn để ngân sách thu được nhiều hơn. Một khi ngân sách không bị thất thu một khoản thuế thu nhập khá lớn thì khả năng tăng chi cho an sinh xã hội sẽ cao hơn. Đề xuất của ủy ban này có thể hiểu là cách phân bổ lại thu nhập để giảm bớt chênh lệch giàu nghèo - là một cách làm đúng bài bản của những đại biểu dân cử.   
Trong thực tế, đề xuất này đã gặp phải sự phê phán kịch liệt của công luận và ngay cả những đại biểu khác của Quốc hội. Và dĩ nhiên sự phản bác này nhận được sự đồng tình của đa số mọi người có tiếng nói được phản ánh trên các phương tiện thông tin đại chúng. Người dân nghèo mà thu nhập không bao giờ đến ngưỡng chịu thuế thì không nắm được vấn đề, lại không có tiếng nói nên chiều dư luận ngược lại không thấy xuất hiện trên báo chí.
Loại ví dụ như trên xảy ra nhiều lần, từ những than phiền mức thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam quá cao đến những chỉ trích các loại thuế cao đánh vào ô-tô và câu chuyện chung mức thuế, phí ở Việt Nam thuộc loại cao nhất trên thế giới. Những chính sách miễn giảm thuế cho doanh nghiệp, cho những địa chỉ đã sẵn có thu nhập cao lại được hưởng ứng và hoan nghênh.
Vì sao như vậy? Vì sao những động thái tăng thu ngân sách với hàm ý tăng khả năng chi ngân sách cho an sinh xã hội lại bị phản đối?
Bởi một lý do đơn giản: không ai tin rằng đi cùng với tăng thu ngân sách theo kiểu tăng mức thu thuế thu nhập doanh nghiệp hay thu nhập cá nhân là sự tăng chi cho an sinh xã hội. Bởi nhiều người nghĩ các khoản tăng thu rồi sẽ lãng phí cho tham nhũng, cho trợ cấp doanh nghiệp nhà nước, được đổ vào các công trình đầu tư công lãng phí hay để giải quyết gánh nặng nợ nần của nhiều doanh nghiệp nhà nước từng đổ vỡ như Vinashin. Những khoản vay của Vinashin ắt rồi được khoanh lại và cuối cùng ngân sách nhà nước cũng phải đứng ra chịu trách nhiệm hoàn trả.
Để các chương trình an sinh xã hội, như tấm lưới cuối cùng nâng đỡ những người dân nghèo khó, được tiến hành như ở các nước khác, tức là tăng chi cho chúng sẽ là động lực thu hút sự ủng hộ của đông đảo người dân, việc chi tiêu ngân sách nhà nước phải minh bạch, công khai một cách thực chất. Trong đó việc kết nối giảm chi ở những khoản mục này sẽ giúp tăng chi ở những khoản mục khác phải được chú trọng làm rõ, nhấn mạnh và được kiểm tra chặt chẽ. Có như thế quyền lợi của người dân nghèo mới được bảo vệ, tiếng nói của họ mới được chú ý lắng nghe và vang lên trên các diễn đàn công luận.

Ngược sáng

 Ngày trước lúc nào cũng nghe khuyên chụp ảnh thì đừng chụp ngược sáng. Có lẽ họ sợ chụp như thế mặt của người mẫu sẽ tối thui. Ngày nay máy...