Saturday, February 22, 2014

Trông chờ ngoại lực!

Trông chờ ngoại lực!

Đúng vào ngày cuối cùng của năm 2013, hãng tin Reuters đưa tin Việt Nam sẽ sửa những quy định hiện hành để cho nhà đầu tư nước ngoài có thể sở hữu tối đa đến 60% một số loại công ty niêm yết thay vì chỉ 49%. Mặc dù đây là tin không đầy đủ và báo trong nước đã đăng cách đó cả hai tuần, thị trường chứng khoán vẫn phản ứng tích cực (hình như có tâm lý tin nước ngoài có vẻ đáng tin hơn chăng?) – hàng loạt cổ phiếu tăng giá mạnh.

Tăng tỷ lệ cho người nước ngoài sở hữu cổ phiếu, mở rộng cửa tối đa cho người nước ngoài mua nhà ở Việt Nam, tích cực đàm phán Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) để thu hút thêm đầu tư nước ngoài... dường như không chỉ thị trường mà cả nhà làm chính sách cũng đang kỳ vọng đầu tư nước ngoài sẽ là liều thuốc cứu tinh cho nền kinh tế Việt Nam, đưa nó ra khỏi tình trạng suy trầm, thậm chí có thể nói là bế tắc. Liệu đây có phải là kỳ vọng hợp lý, liệu năm 2014 sẽ chứng kiến sự phục hồi kinh tế dựa vào ngoại lực?

Trước khi trả lời câu hỏi này, thiết tưởng phải định bệnh chính xác cho nền kinh tế bởi các biểu hiện tăng trưởng thấp, nợ xấu cao, sức mua yếu, nhiều doanh nghiệp đóng cửa ngừng hoạt động... không phải là nguyên nhân mà chỉ là hệ quả.

Không cần dẫn các con số thống kê chính thức như tăng trưởng GDP, có lẽ ai cũng đồng ý nền kinh tế đang tăng chậm lại trong những năm gần đây, từ đó gây ra những biểu hiện nói trên. Nguyên nhân chủ yếu là do tính cạnh tranh của nền kinh tế đã giảm mạnh; tính cạnh tranh giảm mạnh là do nhiều nguyên nhân như chi phí sản xuất tăng quá nhanh, có một thời gian ai ai cũng lao vào địa ốc, chứng khoán, tức hăm hở làm giàu nhờ nền kinh tế ảo chứ không quan tâm đến nền kinh tế thật nữa. Nói đến chi phí sản xuất, có lẽ ai cũng thấy tiền lương danh nghĩa ở nước ta tăng quá nhanh do lạm phát – lương tăng mà mức sống hầu như không thay đổi cho nên thực tế xem như không tăng gì cả. Vấn đề ở chỗ mức lương này tính bằng ngoại tệ thì tăng thật, tăng mạnh và làm cho sức cạnh tranh của lao động Việt Nam giảm mạnh so với trước. Ví dụ ngày xưa lương của công nhân may mặc có thể chỉ là 100 đô-la, tức chừng 1,6 triệu đồng/tháng, công nhân xoay xở cũng tạm qua ngày. Nay mức lương này phải chừng 4 triệu đồng/tháng mới duy trì được mức sống tương đương. Nhưng, thử tính mà coi, lúc này mức lương này đã gần bằng 200 đô-la/tháng thì những ai làm kế hoạch kinh doanh dựa trên mức lương công nhân 100 đô-la/tháng xem như bỏ cuộc.

Trong khi đó, giá trị tài sản ở Việt Nam sau khi trở thành thành viên WTO tăng vọt không theo quy luật gì cả. Bất kỳ ai bỏ tiền đầu tư vào địa ốc đều trúng lớn, gấp cả chục lần so với ngành nghề kinh doanh chính của họ như thủy sản, may mặc, thủ công mỹ nghệ, sản xuất hàng tiêu dùng nội địa... Giá trị tài sản đó còn là mức định giá cổ phần doanh nghiệp, làm ai nấy đều hăm hở tưởng mình giàu đến nơi. Giá trị tài sản tăng kéo theo lượng tiền tăng tương ứng, là nguyên nhân của các đợt lạm phát cao trong mấy năm liền. Để khống chế lạm phát, lãi suất phải được nâng lên – lại là tác nhân làm chi phí sản xuất tăng vọt thêm nữa, làm xói mòn thêm nữa năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước. Tất cả những yếu tố này làm doanh nghiệp trong nước suy kiệt, không thể trông mong họ tự thoát suy trầm, tự kéo nền kinh tế đi lên.

Trong khi đó, giới đầu tư nước ngoài, không bị lôi cuốn vào cuộc chạy theo bong bóng giá tài sản, không chịu lãi suất cao, đang tiếp tục là động lực thúc đẩy tăng trưởng hiện nay. Cứ nhìn vào con số so sánh tăng trưởng xuất khẩu giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ thấy rõ điều này. Từ đó mới có kỳ vọng vào khối doanh nghiệp nước ngoài như nói ở đầu bài.

Kỳ vọng đó hoàn toàn có thể trở thành hiện thực nếu giá tài sản ở Việt Nam giảm mạnh đến mức nhà đầu tư nước ngoài thấy là hấp dẫn đối với họ. Ví dụ, rõ ràng không thể trông chờ người nước ngoài ồ ạt vào đây mua nhà, chuyện đó khó lòng xảy ra; ngay cả với những ai đang thuê nhà, muốn họ bỏ tiền ra mua nhà thì chi phí bỏ ra nhằm sở hữu nhà phải tương đương mức họ đang bỏ ra để thuê nhà, bằng không sẽ không có động lực nào để họ mua nhà cả. Nhưng nếu nhà đầu tư thấy tiềm năng của việc đầu tư vào các dự án bất động sản đang đóng băng khi giá giảm đến mức họ kinh doanh có lãi thì họ sẽ nhảy vào khi các ràng buộc được tháo gỡ. Các bản tin gần đây về những dự án chuyển chủ cho nước ngoài cho thấy điều đó.

Với những ai sử dụng Việt Nam như một công xưởng gia công, kiểu như nhập nguyên liệu, lắp ráp, xuất đi bán nơi khác thì Việt Nam vẫn còn sức hấp dẫn nhất định, bất kể giá công nhân tăng mạnh. Với những ai trông mong mua lại công ty trong nước để tận dụng các mạng lưới có sẵn, cơ hội mua sản nghiệp tốt với giá rẻ là nhiều.

Như vậy vấn đề còn lại là những băn khoăn liệu mở cửa cho đầu tư nước ngoài như thế cuối cùng chúng ta được gì, không lẽ ai nấy đều đi làm thuê ngay chính trên đất nước mình? Có lẽ, như một số nước sau khủng hoảng kinh tế, chúng ta đành phải chấp nhận một giai đoạn chuyển tiếp khi tài sản sẽ chuyển cho nước ngoài. Khi nền kinh tế phục hồi, chắc chắn người dân sẽ tìm cơ hội kinh doanh, lúc đó họ sẽ tìm cách mua lại tài sản. Lúc đó có lẽ không còn ai dám chạy theo ảo tưởng làm giàu nhờ vào nền kinh tế ảo nữa.

Chỉ có điều trong giai đoạn chuyển tiếp đó, mỗi khi cứ đọc trên báo các tin như vừa nhập hai chuyến bò Úc về Việt Nam, tổng cộng 10.000 con, có thể thấy ngay đằng sau dòng tin này là hàng ngàn nông dân nuôi bò trong nước sẽ gặp khó khăn vì giá bán bò không cạnh tranh nổi. 

Hay với tin Việt Nam nhập hơn 385 triệu đô-la rau quả trong năm vừa qua, có thể hình dung hàng chục ngàn hộ gia đình trồng rau ở các tỉnh sẽ vất vả nhiều hơn trong sản xuất và kinh doanh. Đi kèm với mở cửa là cái giá phải trả cho những xáo động xã hội, những khó khăn không lường hết được. 

Cho nên nếu Walmart vào đây mở siêu thị thì đó là xu thế không cưỡng được nhưng cũng phải hiểu xu thế này buộc nhiều cửa hàng tạp hóa thu gọn kinh doanh để dần biến mất; một cửa hàng McDonald’s mở ra, vài ba cửa tiệm phở phải giảm khách. Đó là chuyện đương nhiên và người làm chính sách phải biết để điều chỉnh kịp thời.