Monday, July 7, 2014

Bàn về tự do báo chí

Bàn về tự do báo chí

Tự do báo chí là một đề tài rất nhạy cảm nhưng đó là bởi chúng ta nhìn nó theo nghĩa hẹp. Cứ thử nhìn rộng ra ngoài lãnh vực chính trị, sẽ thấy rất nhiều yếu tố bất ngờ đang tác động lên tự do báo chí.

Đầu tiên là lười và tay nghề yếu làm nhiều phóng viên đánh mất sự tự do của mình. Nói cụ thể, muốn viết một bài điểm sách có chất lượng thì điều kiện tiên quyết là phải đọc cuốn sách đó, muốn phê bình một bộ phim mới ra rạp, chắc chắn phải xem trọn vẹn bộ phim. Thế nhưng với nhiều phóng viên, bỏ vài ba ngày để đọc cuốn sách rồi viết một mẩu lọt thỏm là chuyện khó lòng xảy ra. Thế là họ đành bỏ sự tự do phóng bút để buộc mình vào trang thông cáo báo chí mà nhà xuất bản đã gởi sẵn vào hộp thư cho họ, kể cả những đoạn chê một chút, lên án “sự trần trụi” một chút cho thu hút người đọc. Một khi họ tự nguyện cắt và dán từ các bài báo chuẩn bị sẵn cho họ thì làm gì còn tự do báo chí đúng nghĩa nữa.

Chuyện này khá phổ biến và không chỉ diễn ra trong lãnh vực điểm sách, điểm phim mà còn nhiều thứ khác, từ giới thiệu thời trang, bình sản phẩm mới đến đánh giá tour du lịch, quán ăn ngon. Được giao viết tin về một cuộc triển lãm tranh, một nền báo chí tự do thật sự sẽ đòi hỏi người phóng viên có chút ít kiến thức về hội họa, trước khi đến xem triển lãm, phải làm nghiên cứu tường tận về họa sĩ có tranh triển lãm, khi đến dự phải dùng kiến thức hội họa của mình để thưởng lãm tranh và bình theo hiểu biết của mình hay ít ra cũng gặp vài ba người có thẩm quyền để phỏng vấn họ. Khó lòng trông chờ chuyện đó ở Việt Nam.

Trong bối cảnh đó thì người nào hội đủ những yếu tố nói trên sẽ trở thành những cây bút có uy tín và họ sẽ hưởng được sự tự do, ít nhất là trong lãnh vực của họ.

Sự thiếu vắng tự do báo chí ở chúng ta một phần cũng do sự cả nể. Với nhà báo, xây dựng một mối quan hệ bền vững để nguồn tin tự động nhớ đến mình một khi “có chuyện” là cả một quá trình khó khăn. Trên con đường đó, đôi lúc họ phải “áp dụng” sự cả nể để duy trì quan hệ, để tiếp tục nhận được thông tin. Vì thế chúng ta sẽ thấy tin hoạt động bình thường của một tập đoàn nào đó thì xuất hiện thường xuyên nhưng tin về một sự cố nào đó cũng ở tập đoàn này sẽ bị dấu nhẹm vì phóng viên ngại phá vỡ mối quan hệ đã xây dựng bấy lâu nay. Đó là chưa nói đến những yếu tố tương tự nhưng xuất phát từ quan hệ khách hàng quảng cáo dài hạn, bảo trợ các chương trình, tài trợ các chuyên mục.

Thế nhưng yếu tố lớn nhất làm phóng viên đánh mất sự tự do là việc thiếu vắng kiến thức chuyên ngành mà họ bao quát. Lấy ví dụ lãnh vực kinh tế, nếu phóng viên thiếu kiến thức cơ bản, họ sẽ không dám mở rộng đề tài, ngại ngùng khi phỏng vấn, e dè khi đưa tin và trước sau gì cũng viết sai. Với phóng viên không có nền tảng kiến thức cơ bản, họ sẽ phụ thuộc vào nguồn tin, nói sao là tin vậy; phụ thuộc vào một số chuyên gia ruột, lập luận sao là viết theo liền.

Bởi vậy nên dù báo chí, nhất là các ấn bản điện tử, đang nở rộ nhưng thông tin cần thiết cho người đọc để ứng xử trong cuộc sống ngày càng thiếu vắng. Không thể mở tờ báo ra đọc để sau đó tin tưởng mà ra tiệm mua cuốn sách, vào rạp xem bộ phim. Không thể biết được ai đứng đằng sau dự án này, dự án kia; vì sao mảnh đất vàng nằm ngay trung tâm thành phố vẫn chào rắn im lìm trong nhiều năm. Không thể biết những lời đồn về “đại gia” này, “đại gia” kia có bao nhiêu phần sự thật; những khoản nợ khổng lồ của doanh nghiệp này sẽ được giải quyết như thế nào; chính sách nọ có thật sự giúp ích cho nền tài chính...

Quy luật bù trừ lúc này sẽ phát huy tác dụng: không làm được những đề tài khó thì cứ lao vào chuyện dễ, lại đáp ứng nhu cầu giải trí, nhu cầu “tán chuyện” của rất nhiều người. Chuyện đó thì ai cũng thấy.

Chuyện các đề tài “nhạy cảm” mà tùy từng lúc báo chí phải tránh xa là có chứ không phải không. Giả thử một phóng viên đi đâu công tác xa chừng một năm nay quay về và đọc toàn bộ các báo trong một tháng gần đây. Có lẽ anh này sẽ trợn tròn mắt ngạc nhiên vì sẽ thấy báo dùng tàu Trung Quốc chứ không còn “tàu lạ”; công hàm Phạm Văn Đồng được đưa ra mổ xẻ cặn kẽ; vấn đề làm sao để tránh phụ thuộc vào Trung Quốc về kinh tế được bàn ở mọi khía cạnh; mưu đồ lấn chiếm dần Biển Đông của ông bạn vàng Trung Quốc bị vạch trần – thậm chí “16 chữ vàng, bốn tốt” được nhắc đến để cảnh giác chứ không phải để khen ngợi.

Ở đây quy luật bù trừ cũng thể hiện rất rõ: có phóng viên lười, tay nghề yếu, cả nể như đã nói ở trên thì cũng có những phóng viên lão luyện, yêu nghề, từng dày công làm nghiên cứu về lãnh vực đảm trách. Nên cho dù có gián đoạn, khi cần, các nhà báo chân chính này cùng các chuyên gia mà lúc nào cũng có sẵn, đã cho ra đời những bài báo thời sự về Biển Đông, vừa nóng hổi, vừa chỉn chu như yêu cầu của bạn đọc.

Bởi vậy, cách tốt nhất không phải là săm soi để bất kỳ bản đồ Việt Nam nào dù nhỏ xíu như con tem trên biểu trưng cũng phải có Hoàng Sa, Trường Sa – người viết báo có lòng tự trọng sẽ biết cách để bảo vệ chủ quyền của đất nước chứ không cần nhắc nhở. Cách tốt nhất là khuyến khích một môi trường hành nghề báo chí có cạnh tranh lành mạnh để phóng viên cũng phải theo quy luật đào thải và vươn lên như bất kỳ nghề nào khác.

Lúc đó những bài viết chỉ biết ăn theo thông cáo báo chí sẽ bị loại trừ, những bài viết sai lệch vì thiếu kiến thức chuyên môn sẽ bị vạch trần. Và chính trong môi trường đó, báo chí mới lấy lại được niềm tin của người dân; lúc đó mới hòng sử dụng báo chí để làm cầu nối đưa thông tin đến người dân như mong muốn.