Friday, March 21, 2008

Doc sach

Lo chuyện… bao đồng?

Nguyễn Vạn Phú

Nhân Hội sách lần thứ 5 vừa được tổ chức, vấn đề người Việt có mê đọc sách không lại được đưa ra thảo luận. Thú thật, mỗi lần nghe bàn đến chuyện này, người viết có cảm giác như thể ai đó hỏi: nhân loại có còn mê ăn không?

Thử nhớ lại các bà mẹ Việt Nam cách đây chừng mấy chục năm, rất nhiều bà không biết đọc, chưa từng được cầm cuốn sách nào nhưng cũng rất nhiều bà thuộc lòng truyện Kiều và vô vàn câu thơ, câu vè, lại sử dụng chúng rất nhuần nhuyễn trong cuộc sống, trong nuôi dạy con cái. Ai dám bảo các bà mẹ chúng ta không đọc sách, hiểu theo một nghĩa đen thô thiển.

Lịch sử văn học dân gian cũng tràn đầy những dẫn chứng cho thấy “đọc sách” không bao giờ được hiểu ở một góc cạnh bó hẹp như đang được hiểu. “Sách” dù không tồn tại trên giấy mực, vẫn được “in” ra và lưu truyền, mỗi năm có một “ấn bản” mới, hay hơn “ấn bản” trước, để cuối cùng nhân loại có những tuyệt tác còn lại đến ngày nay.

Vì thế, khi bàn đến chuyện người Việt có mê đọc sách không, thiết tưởng phải định nghĩa lại hai từ cơ bản là “đọc” và “sách”. Cuốn Mật mã Da Vinci có sức lôi cuốn đến nỗi, không chờ được bản dịch, không thể gởi mua từ nước ngoài về, tôi đã tải từ trên mạng Internet, bỏ vào chiếc máy điện thoại sử dụng hệ điều hành Windows Mobile, đọc một cách say mê. Không sờ vào giấy, chẳng thấy chút mực nào, tôi vẫn đang đọc sách đấy chứ. Và có lẽ nhiều người bảo, nhờ thế mà tránh được “thảm họa dịch thuật” từng được bàn tán sôi nổi một thời gian.

Ví dụ này quá rõ nên có lẽ được nhiều người đồng tình. Nhưng thử giả định tiếp, một em “đọc” Tây Du Ký qua bộ phim truyền hình nhiều tập cùng tên, một bác “đọc” những phóng sự về rừng già Amazon qua các bộ phim tài liệu, một cô “đọc” và tìm hiểu cảm giác cô đơn của giới trẻ qua những bản nhạc cô yêu thích – thì rõ ràng họ vẫn đang “đọc sách” đó thôi.

Nếu ngày trước, kiến thức nhân loại chỉ có một con đường phổ biến là sách in thì ngày nay dòng kiến thức đó, đã tăng bội lần, được truyền tải bằng nhiều phương tiện, dưới nhiều hình thức. Nói cho cùng, nhu cầu “đọc” để hiểu cuộc sống chung quanh mình, để chia sẻ với đồng loại là nhu cầu không bao giờ mất đi cho nên con người không bao giờ hết mê “đọc sách”. Vấn đề là họ tìm cách thỏa mãn nhu cầu đó bằng cách nào và con đường nào; và đó là chọn lựa tối ưu của mỗi cá nhân, không có gì phải lo lắng hay băn khoăn cho họ cả.

Lấy ví dụ, trước khi Việt Nam có thị trường chứng khoán, dù thị trường có cuốn sách được viết hay đến mấy, chắc cũng ít người tìm đọc. Đến khi, người người chơi chứng khoán, nhà nhà lên sàn, không ai bảo ai, các tiệm sách bỗng tràn ngập loại sách này. Hiện nay người Việt ít mua sách về đọc, đơn giản là thị trường sách chưa thỏa mãn nhu cầu đọc của họ. Không ai chịu bị lừa nhiều lần, bỏ tiền mua các cuốn sách được làm cẩu thả, sai kiến thức, sao chép… Ngược lại, sách thuộc loại khó đọc như các cuốn sách kinh điển về triết học làm cẩn thận, biên soạn công phu vẫn thuộc loại sách bán chạy trong những năm gần đây.

Và trong thời đại thông tin tràn ngập hiện nay, không ai đọc theo kiểu ôm khư khư các cuốn sách gối đầu giường như kiểu ông cha ta đem Tứ thư Ngũ kinh ra tụng thuộc lòng. Nhu cầu của tôi là tìm hiểu diễn biến của toàn cầu hóa, tôi sẽ dùng Internet tìm đúng đến tài liệu cầu đọc, thậm chí vừa đọc vừa trao đổi với người khác nếu đó là mạng Internet 2.0. Nếu tôi muốn làm quen với hệ điều hành Palm chẳng hạn, tôi sẽ vào các diễn đàn chuyên về chủ đề này và ở đó, tôi sẽ đọc được hàng tấn thông tin, còn bổ ích và thiết thực gấp nhiều lần so với một cuốn sách về chủ đề tương tự.

Xin mở rộng ra một chút về các đề tài “lớn lao” hơn. Các bộ phim tầm phào như “300” lại hé mở cho thấy một góc tâm lý phương Tây về Hồi giáo, về cuộc chiến tại Iraq nhiều hơn cả chục cuốn sách dày cộp. Các blog cho thấy nhiều điều không sách nào phản ánh hết được.
Như vậy, vấn đề không phải là người Việt có mê đọc sách không mà ở chỗ làm sao có sách hay để “mê đọc” và làm sao thế hệ trẻ được giáo dục ở nhà trường cách thẩm định đúng đắn cái hay cái dở của sách, một cách tự do chứ không bị ràng buộc bởi những định kiến hay khuôn khổ như kiểu “đọc sách” phải là “đọc sách”. Không có công cụ đó, chúng sẽ lớn lên và sẽ phải mất nhiều thì giờ hơn để tìm hiểu thế giới quanh chúng, phải mày mò qua các bộ phim truyền hình ướt át nhiều tập hay sau hàng giờ ngồi chat trước máy tính.

Sunday, March 16, 2008

Diem phim

In the Valley of Elah - Một góc nhìn phản chiến

Vân Cầm

Gọi là phim phản chiến nhưng “In the Valley of Elah” bắt đầu như một phim hình sự. Viên trung sĩ già đã nghỉ hưu Hank Deerfield (Tommy Lee Jones đóng) một hôm bỗng nhận tin báo con ông đã từ chiến trường Iraq trở về nhưng lại mất tích ngay trên đất Mỹ. Với kinh nghiệm làm cảnh sát quân sự trong nhiều năm, Deerfield lái xe đường dài đến khu căn cứ nơi con ông đóng quân để tìm con. Phim tiếp tục như một cuộc điều tra tội phạm, với những đầu mối buôn bán ma túy, băng đảng địa phương… Xen kẽ là những đoạn phim ngắn về những ngày con ông đóng quân ở Iraq quay bằng máy điện thoại di động mờ mờ ảo ảo do Deerfield tìm được trong đống đồ đạc con ông để lại. Cảnh sát địa phương cuối cùng tìm ra xác con ông, bị cắt thành nhiều mảnh, nghi ngờ lớn nhất cũng là băng đảng Mexico buôn lậu ma túy mà con ông có khả năng dính líu. Kết cục bất ngờ: con ông bị nhóm đồng đội sát hại vì một lý do không đâu vào đâu; tất cả nhóm lính trong trung đội này đã trở thành con người khác, hoang mang, hung dữ, điên rồ, lạc hướng sau những ngày tháng bị biến thành những cổ máy sát nhân ở Iraq.

Đạo diễn Paul Haggis, người từng đoạt giải Oscar phim hay nhất năm 2005 với bộ phim “Crash” – một bức tranh phức tạp về nạn phân biệt chủng tộc ở Mỹ - nay quay sang đề tài phản chiến. Phim dựa trên hình thức điều tra hình sự, không chỉ để thu hút người xem mà còn là sự điều tra, tự vấn về cuộc chiến Iraq nơi những người lính Mỹ trẻ đánh mất sự ngây thơ của họ qua góc nhìn của người cha từng theo nghiệp lính suốt đời. Các đoạn phim quay bằng máy điện thoại di động bị hỏng, được một tay rành máy móc phục hồi, đã hé mở cho thấy nỗi kinh hoàng của chiến tranh khi lính Mỹ tra tấn tù nhân như một trò đùa, nhấn ga xe tải cán chết em bé vì sợ dừng lại sẽ bị phục kích… Deerfield bị ám ảnh bởi cú điện thoại của con ông khi còn ở Iraq, cầu cứu ông, mong tìm nơi ông sự giải thích cho sự điên rồ của chính mình và đồng đội. Nhưng tất cả chỉ là những tiếng vọng, những hình ảnh chập chờn, như thể đạo diễn muốn tránh nói trực tiếp đến cuộc chiến hay muốn tạo ấn tượng hỗn loạn, mơ hồ như cách nhiều người Mỹ đang nghĩ về cuộc chiến Iraq hiện nay.

Tommy Lee Jones, được đề cử giải Oscar cho nam diễn viên xuất sắc trong bộ phim này, đã đóng trọn vai trò một người cha, một người cựu binh, lần mò theo các dấu vết để tìm con. Người xem theo từng bước chân của ông, không phải để khám phá một vụ án hình sự, mà dấn sâu vào tâm hồn bị hủy hoại của người con, về bi kịch con người ở Iraq. Những nếp nhăn trên khuôn mặt ông dường như ngày càng sâu hơn khi ông dần dà phải chấp nhận thực tế: cuộc chiến ở Iraq đã biến con ông cũng như đồng đội anh ta thành những con người khác, nơi thú tính lấn lướt lý trí. Góc nhìn của một người cựu binh, luôn ủng hộ quân đội Mỹ, càng làm sự thức tỉnh này đau đớn hơn cho ông và cho người xem. Tommy Lee Jones hầu như không dùng thừa lời nói nào trong suốt phim, ngay cả với bà vợ đang chờ tin ở nhà nhưng nỗi đau như chảy ra từ nét nhìn sâu thẳm của ông.

Xen vào phim là một dòng chảy khác, về nữ cảnh sát Emily Sanders (Charlize Theron đóng), bị các đồng nghiệp nam quấy rối, bị ám ảnh bởi một vụ án bạo hành gia đình gây chết người mà lẽ ra cô đã có thể can thiệp. Với sự giúp đỡ của Sanders, Deerfield đã vượt qua sự thờ ơ của cảnh sát địa phương và nỗ lực che giấu sự thật của bên quân đội để tìm ra sự thật về số phận con ông.

Tựa phim có lẽ không phù hợp cho lắm vì Thung lũng Elah là nơi diễn ra cuộc đối đầu không cân sức giữa David và Goliath trong kinh Cựu Ước. Ở đây không có ai là chú bé, không có ai là gã khổng lồ; chỉ có những kẻ vừa là thủ phạm vừa là nạn nhân của một cuộc chiến phi lý. In the Valley of Elah dựa vào câu chuyện có thật cũng là một lính Mỹ trở về từ Iraq và bị đâm chết cách đây mấy năm. Đạo diễn kiêm tác giả kịch bản Haggis đã đổi địa danh, tên tuổi và thêm những chi tiết có thật ông khai thác từ những cựu binh khác để dựng phim này. Haggis cũng là tác giả hay đồng tác giả những kịch bản phim nổi tiếng khác như Million Dollar Baby, Letters from Iwo Jima…

Dòng phim về cuộc chiến Iraq không thành công về mặt doanh thu. Mặc dù được đánh giá cao bởi những nhà phê bình phim ở Mỹ, In the Valley of Elah chỉ thu được 6,7 triệu đô-la, có lẽ vì phim đi ngược lối kết phim có hậu của Hollywood, cũng không phải là loại phim vừa xem vừa nhai bắp rang. Bộ phim “Rendition” cũng chỉ thu về 9,7 triệu đô-la và “Lambs for Lions” cũng thất bại trong phòng vé. Ngay cả phim “Kingdom” chỉ thu về 47 triệu đô-la trong khi chi phí lên đến 80 triệu đô-la. Dù sao, góc nhìn gián tiếp của phim lại thuyết phục hơn, buộc người xem suy nghĩ nhiều hơn so với những phim tương tự trực tiếp khai thác tâm lý suy sụp của cựu binh Mỹ khi trở về cuộc sống bình thường.